Đường dây nóng: 0212.850.221

Nương trong đời sống sản xuất của dân tộc Thái

Cập nhật: 02:32:17 03 / 09 / 2019
Lượt xem: 53

     Người Thái là tộc người chiếm số đông với trình độ sản xuất nông nghiệp lúa nước đạt đến trình độ cao cả về phương pháp trồng cấy lúa và kỹ thuật xây dựng hệ thống thủy lợi đảm bảo nguồn nước tưới cho các thửa ruộng trong vùng. Ngoài canh tác ruộng nước, hàng năm người Thái và các tộc người khác còn canh tác nương rẫy với hai vụ lúa sớm hoặc lúa mùa góp phần tăng sản lượng lương thực đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của địa phương.

 

     Ngoài sản xuất nông nghiệp, người Thái ở Sơn La còn thường vào rừng khai thác lâm sản như gỗ để làm nhà, chuồng gia súc; săn bắn động vật hoang dã vừa để làm thức ăn, vừa bán cho các nhà buôn. Trong bài viết này, tôi muốn làm rõ loại hình canh tác nương rẫy của người Thái (tỉnh Sơn La) và gắn nó trong đời sống xưa, nay với tầm quan trọng và những điểm còn hạn chế.

     Trong cuộc sống xưa của người Thái, nương có nhiều tác dụng. Nương lúa cùng với ruộng nước giải quyết nhu cầu về thóc gạo. Nương ngô giải quyết nhu cầu về lương ăn cho người và gia súc. Sắn tuy mới du nhập vào Tây Bắc từ năm 1954 nhưng cũng nhanh chóng làm xanh nương đồi, đóng vai trog tích cực trong việc phục vụ các nhu cầu về lương thực. Nương còn giải quyết thức ăn có chất bột khác như các loại cây có củ: Khoai sọ, khoai lang v.v…; những cây có chất dầu: Vừng, lạc; và đặc biệt trồng bông, chàm để đáp ứng nhu cầu mặc. Như vậy, trong khi trên mặt ruộng chỉ độc canh lúa, trên mặt nương đã cho phép người ta mở rộng việc trồng trọt khác với ý nghĩa kinh tế có tầm quan trọng. Ruộng nước không thực hiện được việc xen canh nhiều loại cây trồng thì nương lại có thể xen canh nhiều loại cây trồng rất tốt. Ruộng nước không thể trồng những cây chỉ sống trên cạn, nhưng ở nương lại có thể trồng cả cây vốn ưa nước như lúa. Đây là một trong những lợi thế của việc mà làm nương cổ truyền. Chính nhờ có lợi thế này mà đại bộ phận họ đã định canh, định cư, với việc làm ruộng và thực hiện luân canh trên nương để mưu tăng gia thêm của cải vật chất. Nương và ruộng do đó trở thành hai đối tượng lao động của các cư dân Thái trong lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất. Một lý do khác khiến đồng bào không bỏ việc làm nương vì trước đây tầng lớp quý tộc với bộ máy thống trị của nó đã bóc lột nhân dân lao động trên nền tảng ruộng nước chứ không dựa trực tiếp trên những mảnh nương của người sản xuất. Như vậy pháp lý xưa đã thừa nhận nương là “đất tự do” của người sản xuất. Đây là một yếu tố xã hội đã góp phần đẩy một bộ phận người lao động tách hẳn khỏi ruộng để làm nương, hoặc chỉ làm một phần ruộng còn sinh sống chủ yếu bằng nương. Cái nổi bật vẫn là thiên nhiên Tây Bắc tuy có một mạng lưới sông suối dày đặc nhưng phân bố không đều. Vì thiếu nước và thiếu địa điểm để tạo ra ruộng ở mọi nơi nên nhiều vùng, nhiều nhóm dân cư đã phải sinh sống chủ yếu bằng nương. Năm 1972, Ủy ban Nông nghiệp Khu tự trị Tây Bắc đã thống kê đất của miền rừng núi này, chỉ có hơn 3 vạn ha ruộng nước, trong khi đó đất làm nương lên đến 7,8 vạn ha. Những cư dân chuyên sinh sống bằng nương đất đã mất hoàn toàn ưu thế định canh, định cư của người làm ruộng nước. Họ không còn có bản để ổn định để có thể “trồng trầu bám chắc rễ, trồng quả mọc thành cây” (tục ngữ: Púk pú pên hạ, púk mák pên co). Đã dựa hoàn toàn vào nương thì buộc lòng phải sống trong tình trạng bất ổn định: “Ba ngày  chuyển nhà, ba tháng rời bản” (tục ngữ: Xam mự nhại hươn, xam bượn nhại bản). Từ đó, cuộc sống của các cư dân này trở nên đói kém. Thực tế ấy, người Thái đã coi việc bỏ ruộng để đi làm nương là sự miễn cưỡng. Ngược lại nếu có ruộng để định canh, định cư và có nương để làm nguồn thu hoạch bù đắp chỗ thiếu của ruộng đã trở thành cuộc sống lý tưởng của người sản xuất thời xưa. Họ hiểu rất kỹ tính chất quảng canh: năng suất thấp, bất ổn định của nương – “nương nhìn rộng vượt tầm mắt cũng không bằng một thửa ruộng” (hay lưa ta báu na to na hâư nưng). Chẳng những thể mức độ lệ thuộc vào thiên nhiên của nương bao giờ cũng cao hơn ruộng. Sau khi nghiên cứu trên 10 bản chuyên sống về nương ở nhiều địa phương khác nhau thì thấy họ đã phải sống trong tình trạng bấp bênh biết nhường nào. Trong khoảng 10 năm của những cư dân này thì thường chỉ có 3 năm no đủ, 3 năm thiếu ăn từ 1 đến 3 tháng, 3 năm thiếu thốn từ 3 tháng trở lên và 1 năm thiếu trầm trọng. Thực tế phũ phàng này đã được nêu lên trong câu tục ngữ nổi tiếng: “Năm được trâu, năm bán con” (pi đẩy quái, pi khai lụ).

     Nương của người Thái có nhiều loại: nương dốc, nương bằng, nương một vụ, nương hai vụ, nương lúa, nương ngô, nương bông, ngương chàm.v.v..Song nếu rút lại phân theo loại hình kinh tế thì chỉ có thể có hai loại. Nương cày thuộc loại hình nông nghiệp dùng cày trên đất khô vì phải dùng đến sức kéo của đại gia súc như trâu. Nương thuộc loại hình này chỉ phổ biến ở dân tộc Mèo, Hà Nhì, Người Thái ở một vài nơi thuộc các châu miền Bắc cũng học tập đồng bào Mèo áp dụng kỹ thuật cày nương nhưng chưa giỏi. Phổ biến hơn cả vẫn là nương thuộc loại hình kinh tế nông nghiệp cuốc hay dùng tay. Đó là những thứ nương rất phổ biến ở nhiều cư dân vùng nhiệt đới, ẩm ướt. Loại nương này có từ thời kỳ nguyên thủy khi con người mới biết trồng trọt đầu tiên và những tàn dư của nó còn bảo lưu đến ngày nay. Đồng bào gọi nương thuộc loại hình kinh tế nông nghiệp dùng cuốc hay dùng tay là “hay” “Hay” có thể là từ biến âm đồng nghĩa với từ “h rê” trong tiếng Khơ Mú, “Rẫy” trong tiếng Việt, “Hoong ” trong tiếng Mường, “Kại” trong tiếng Kháng và “Ha” trong tiếng La Hủ, “hay” đúng nghĩa của người Thái là một khoảng đất rừng bị người ta chặt, phá, đốt, dọn sạch, xới đất để trồng trọ. Lối canh tác này, ngày xưa còn gọi là “đao canh hỏa chủng”(canh tác bằng dao, đốt bằng lửa rồi trồng).

     Theo lối sản xuất của người Thái xưa có thể có những loại nương chuyên canh đồng thời xen canh như sau:

- Nương lúa thường trồng xen đậu, bí, bầu.

- Nương kê trồng xen vừng, lúa miến và dành một khoảng trồng lạc.

- Nương bông trồng xen dưa.

- Nương chàm có hai loại: (chám), (hỏm).

- Ngày nay còn có nương sắn trồng xen ngô gối vụ.

 

     Các biện pháp kỹ thuật canh tác nương:

     Tất cả những nương này nói chung đều phải qua các biện pháp kỹ thuật liên hoàn: chọn đất, phát rừng, đốt và dọn, xới đất (người Thái làm nương không cuốc đất), trồng trọt, chăm sóc và thu hoạch. Để thực hiện các biện pháp liên hoàn này, họ chỉ cần sử dụng  những công cụ đơn giản: Dao, rìu, cuốc bướm làm cỏ, xới đất gọi là “chóp”, “kơ - ve”, cái gậy chọc lỗ để tra hạt giống và các công cụ vạn năng. Chỉ cần một con dao tốt người ta có thể tạo ra một cái nương đầy đủ như nghĩa của nó. Dao thay rìu phá rừng, chặt nứa, cạo bùi nhùi để làm mỗi cho vật cọ sát ra lửa. Rồi dùng lửa đó đốt nương. Dao còn tham gia việc dọn sạch nương, chặt cây làm gậy chọc lỗ gieo hạt, thay liềm gặt hái.v.v..

     Sau khi chọn được nơi làm nương, người chủ nương đánh dấu sở hữu bằng một mảnh phên đan mắt cáo ngũ giác, gọi là “la leo”. Bắt đầu từ tháng 2 dương lịch (tháng 7 lịch Thái) người ta bắt đầu phát nương. Tiết trời tháng này đã  khô ráo rất thuận lợi cho việc phát cây, dễ khô cỏ. Phát xong tức là nương đã ở vào giai đoạn “ủ cây”, gọi là “bốm chá”. Đó là kỹ thuật phổ biến được họ cho rằng tác dụng của nó giống như cày ải ở ruộng (câu tục ngữ: “làm nương ủ cây, làm ruộng cày ải”). Tác dụng chủ yếu của giai đoạn “ủ cây” là để cây cối có thời gian khô nỏ, hạt nỏ, cây có thời gian héo, teo mầm mất khả năng mọc lấn át giống cây trồng. “Ủ cây” còn nhằm tạo điều kiện cho đất có độ ẩm, một hình thức tưới nước tự nhiên cho cây trồng.

     Sang tháng 3 (tháng 8 lịch Thái), mùa khô hanh phát triển tới đỉnh cao, người ta bắt đầu đốt và dọn nương. Xưa người làm nương cũng đã nghĩ tới biện pháp chống lửa cháy, lan rừng. Đó là cách tạo ra một đường sạch cỏ cây bao quanh nương, gọi là “quẹn hay”. Khi đốt, người ta áp dụng biện pháp đốt ở phần trên nương nơi đầu dốc trước, sau đó dốt ở chân nương phía dưới dốc. Lửa bốc cháy từ chân nương đến là biện pháp hạn chế một phần nào nạn cháy rừng. Đã làm nương thì nạn cháy rừng vẫn không thể triệt để khắc phục được. Hàng năm nạn cháy rừng vẫn là mối đe dọa trầm trọng đối với thiên nhiên. Nhiều vùng do đốt nương còn lan cháy cả bản, gây thiệt hại nhà cửa, của cải, gia súc thậm chí cả người.

     Sau khi đốt, người ta phải bắt tay ngay vào việc dọn sạch nương, gọi là “hạ hay”. Tiếp sang khâu xới qua đất để trải tro than đều gọi là “cúm hay”. Đây chính là làm động tác của nông nghiệp dùng cuốc. Song “chóp” (dao) của người Thái không thể cắm xuống đất quá 10 phân nên chưa thể gọi là nương cuốc đúng nghĩa được.

     Khoảng cuối tháng 4, 5 (tháng 9, 10 lịch Thái) khi những trận mưa đầu mùa đã liên tiếp đổ xuống làm tăng độ ẩm của đất, hạt cây cỏ ở rừng bắt đầu nảy mầm, người làm nương cũng bắt đầu mùa gieo. Cách tra hạt giống của họ cũng rất thô sơ. Đàn ông đi trước dùng gậy vót nhọn đầu chọc xuống đất, đàn bà theo sau tra hạt vào hố. Lối làm ăn “chọc lỗ bỏ hạt” này rất phổ biến ở nhiều dân tộc ở Tây Bắc, nhất là các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Khơ me như: Khơ Mú, Kháng, La Ha, Mảng. Sau đấy người ta dùng cành cây xanh buộc thành chổi quét đất lấp các lỗ tra hạt. Do động tác này nên người ta có câu “gieo nương, quét là” (năm hay quát phột). Ta thường gọi làm nương kiểu này là “nương chọc lỗ bỏ hạt” để phân biệt với nương cuốc. Như vậy so với nương cuốc “nương chọc lỗ bỏ hạt” còn lạc hậu hơn.

     Nếu ở ruộng, khâu cấy quyết định việc kịp hay không kịp thời vụ thì ở nương, khâu đốt và trồng sẽ định rõ thời vụ. Vụ nương đòi hỏi đúng thời vụ hơn ruộng, nên các khâu liên hoàn thường phải tiến hành trong một hai tháng rất khẩn trương. Nương đến tháng đốt không đốt sẽ hỏng vì thời tiết chuyển vào mùa mưa. Nếu đốt sớm quá không đủ tiêu chuẩn của giai đoạn “ủ cây” để khô nỏ; nương không cháy cũng hỏng. Đốt xong, đến vụ gieo; không gieo, hạt giống cũng không mọc. Tục ngữ có câu “Hoa ban nở rộ thì đốt, quả ban nảy mầm thì gieo” (ban pún chọ, ban ngọ năm) Ban nở rộ vào thiết tháng 3, 4 ( tháng 8 lịch Thái) đỉnh cao mùa khô – mùa đốt nương. Song cuối tháng 4, 5 (tháng 9 – 10 lịch Thái) mưa xuống là mùa gieo nương. Nương không đốt cỏ mọc, mấy chốc mà nương biến thành rừng cỏ xanh um. Đó là thứ nương gọi là “cây ngả ở nương biết trỗi dậy” (hay tứn chá). Một đám nương đã lâm tình trạng này, không còn phương sách nào cứu vãn được. Mùa hanh khô chấm dứt, mưa xuống quả ban sau khi rụng xuống đất một thời gian đã nảy mầm. Hạt thóc, ngô gieo xuống lúc tiết trời và độ ẩm của đất như vậy cũng dễ nảy mầm nhất. Nếu quá sớm đất còn khô làm mầm hạt cũng khô. Hoặc nếu để muộn mới gieo thì mầm hạt dễ thối, vì nhiều nước quá.

    Các hình thức làm nương

    Đồng bào làm nương theo trình tự luân canh bỏ hóa. Một mảnh nương thường chỉ làm 1, 2 đến 3 vụ là cùng nên chỉ có ba từ để chỉ ba vụ, chứ không có từ để chỉ vụ thứ tư trở đi.

Tiếng Việt

Tiếng Thái

Nương vụ một

Nương vụ hai

Nương vụ ba

Nương vụ bốn

Hay lao

Hay lộc

Hay lựm

(không có)

     Thực ra lối canh tác trên nương luân canh bỏ hóa theo “vòng quay khép kín” từ 5 đến 10 năm như  người Thái đã có tác dụng nhất định trong việc giữ độ phì nhiêu của đất. Ở vào xứ nhiệt đới, ẩm ướt như Tây Bắc, nếu làm nương trên các sườn dốc từ 150 trở lên mà thực hiện biện pháp cày, cuốc làm cho mặt đất bị xáo trộn quá nhiều dễ bị những cơn mưa xối xả làm xói mòn, chóng bạc màu hơn kiểu nương phải đốt, chọc lỗ bỏ hạt. Vả lại, nếu nương cày, cuốc đã bạc màu cũng khó phục hồi đất trồng hơn. Nó thường biến thành đồi cỏ tranh và sau đó thành đất đá ong, không còn đủ  điều kiện trồng trọt. Nương “ chọc lỗ bỏ hạt” ít khi bị xói mòn, lại được bỏ hóa 5, 10 năm đã có rừng non tái sinh, có khả năng trở lại làm nương ba vụ như cũ. Chính cái bí quyết này đã giải thích được rằng một vùng rừng để làm nương của họ thường thực hiện được nhiều năm. Cuộc sống của đại bộ phận họ ổn định trên ruộng và vùng nương. Họ đã không vì phải thực hiện phương pháp luân canh trên nương mà phải chuyển dịch chỗ ở gây những xáo trộn lớn về cư dân hàng năm.

     Nương rẫy của đồng bào nằm trên vùng rừng núi trùng điệp, xứ sở chim muông, thú rừng phá hoại. Thêm vào đó gia súc chăn nuôi theo lối thả rông cũng là đối tượng phá hoại nương rẫy. Bởi vậy việc bảo vệ nương rẫy đã được đề ra như một khâu việc hết sức cần thiết. Việc rào nương được tiến hành thường xuyên với hai kiểu phổ biến. Nương dốc ở phía đầu và hai sườn phải rào theo kiểu gọi là “rào sàn”, (hụa chan). Đó là lối rào đặt những cây to đè lên các hòn đá, bụi tre hoặc những gốc cây.v.v.. tạo thành một xà ngang. Ở phía chân nương dốc hoặc những nương có mặt bằng thì không thể “rào sàn” được mà phải rào theo kiểu gọi là “rào có đòn tay” (hụa hao).

     Trên những rẻo nương xa người ta còn đặt bẫy để bắt sống hoặc sập chết những con thú phá hoại. Việc bảo vệ hạt giống mới gieo,những hạt quả.v.v… cũng được đặt ra. Lúc này, kẻ phá hoại chủ yếu tức là loài chim và thú gậm nhấm nhỏ hoặc khỉ, gấu…Việc đuổi chim muông hoặc thú gậm nhấm nhỏ thường giao cho trẻ con. Bọn trẻ thường gọi là chim phá hoại là “bạn không biết mà đến” (xích cu báu hụ há má). Bởi vậy bọn chúng rất thích bắt chim rừng về làm chim mồi. Sau khi có chim mồi, bọn trẻ đã sáng chế ra cái lồng bẫy chim có đến chục cửa tự động sập. Những lồng bẫy đó có thể bắt 5, 10 chim ri, chim chích một lúc, đã trở thành thú chơi hào hứng của trẻ. Để giúp cho bọn trẻ xua đuổi chim, người ta còn làm bù nhìn đứng, treo những mõ đón gió tự động gõ. Hoặc người ta còn làm một mạng lưới dây giật gắn với mõ tự động ở xa để chúng có thể ở lều nương, thấy bầy chim sà xuống giật lẫy kéo dây kêu như “súng liên thanh” làm bọn trẻ rất thích thú, còn bầy chim thì hoảng hốt bay tán loạn vào rừng.

   Khác với việc làm ruộng, việc làm nương, nhất là nương lúa, nương ngô, dù sao cũng là loại hình kinh tế tàn phá thiên nhiên hết sức nghiêm trọng. Xưa kia rừng già là đối tượng của nương lúa, rừng mới thì thuộc vùng luân canh các loại nương. Bởi vậy hàng năm diện tích rừng bảo hộ bị thu hẹp lại một cách trầm trọng.

  Như vậy việc làm nương phá rừng trong thời đại ngày nay đã trở thành một loại hình kinh tế gây trở ngại rất lớn cho ngay chính bản thân người Thái và các dân tộc anh em khác. Nương có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của người Thái nhưng lại cần được làm đúng cách, gắn với phát triển bền vững để nguồn lợi rừng, nương sẽ phát huy được ưu điểm của mình, giúp bà con thêm thu nhập, thoát nghèo, ổn định đời sống.

Lường Ngọc Ánh:  Phòng nghiệp vụ Bảo tồn Bảo tàng


Các tin khác:
Tết của người Mông (27/09/2019 08:37)

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 15
Hôm qua : 15
Tháng này : 312
Tổng truy cập : 20006
Đang trực tuyến : 2