Đường dây nóng: 0212.3850221

Học chữ Thái như thế nào cho phù hợp

Cập nhật: 09:56:14 06 / 09 / 2021
Lượt xem: 65

             Chữ Thái thuộc loại chữ cổ xưa nhất, ra đời cách đây hàng ngàn năm. Riêng người Thái ở Việt Nam vẫn giữ được những nét ký hiệu cổ xưa nhất của chữ Thái. Chữ Thái có một bộ thống nhất cơ bản ở các vùng, chỉ có gần mười con chữ có cách viết khác nhau ở các vùng Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Riêng ở Nghệ An lại có cách viết theo chữ Hán, gọi là chữ Lai Pao, nét chữ vẫn là chữ Thái viết theo khổ dọc.

            Theo truyền thống, chữ Thái được học theo hình thức dân gian, cha dạy con, ông dạy cháu để bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc mình. Sau một thời gian dài sưu tầm, hiện nay Thư viện và Bảo tàng tỉnh Sơn La đã lưu giữ được gần hai ngàn cuốn sách chữ Thái cổ được viết trên giấy dó, dướng. Nhưng tuyệt nhiên trong các cuốn sách đó, lại không tìm được cuốn nào dạy học chữ Thái, vậy mà chữ Thái vẫn tồn tại hàng ngàn năm đến ngày nay.

            Sau khi thành lập Khu tự trị Thái - Mèo (năm 1954), sau đổi tên là Khu tự trị Tây Bắc (năm 1959), các tri thức người Thái toàn Khu đã họp, dưới sự chủ trì của Sở Giáo dục khu Tây Bắc, bàn xây dựng bộ chữ Thái thống nhất. Lấy bộ chữ Thái vùng chín châu làm gốc, bổ sung thêm ba cặp (pph, kkh, ts) và ba may (uê, ia, uy) chữ vùng Thái trắng, thêm ký hiệu R, G ghi tiếng nước ngoài và hai dấu thanh điệu ở dưới . Bộ chữ này được dùng cho đến ngày nay. Bộ chữ được dùng xóa nạn mù chữ, in sách báo, một số văn bản pháp luật: Giấy khai sinh, Giấy kết hôn, báo cáo của cơ sở xã, bản; được tổ chức dạy ở các trường phổ thông cấp I từ lớp vỡ lòng cho đến lớp bốn. Cấp II có giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của dân tộc Thái như thơ giao duyên, truyện thơ "Sống chụ xon xao", "Khun Lù Nàng Ủa"… Trường Sư phạm sơ cấp Khu mở lớp đào tạo giáo viên dạy chữ Thái cho các trường. Phong trào học chữ Thái rầm rộ khắp nơi trong toàn Khu. Khi đó, tiếng Thái là tiếng dùng phổ biến ở Khu Tây Bắc, tiếng phổ thông rất ít người nói được, cán bộ xuống cơ sở cũng phải học tiếng Thái.

            Từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, chữ Thái không được học ở các trường phổ thông, sách báo tạm dừng in chữ Thái, chuyển sang in chữ phiên âm chữ phổ thông ra tiếng Thái (chưa phải chữ Thái La tinh).

            Tại sao vậy?

            Có nhiều nguyên nhân, nhưng có thể tựu chung trong ba vấn đề sau đây:

Một là, trình độ dân trí phát triển, yêu cầu ký hiệu ghi thật chính xác, đúng tiếng nói của người Thái, trong khi đó tiếng nói của các vùng người Thái ở Khu chưa được đồng nhất. Việc dịch thuật từ chữ phổ thông sang chữ Thái, từ chữ Thái sang chữ phổ thông lại không phù hợp với nhau, chữ Thái in ra lại không có dấu thanh điệu nên chưa dung hòa với nhau được giữa các vùng người Thái.

            Hai là, trong sách giáo khoa, chương trình dạy chủ yếu dịch từ sách giáo khoa phổ thông sang, kể cả các bài toán, chỉ có một số ít bài văn của dân tộc Thái như ca dao, tục ngữ, thơ. Lớp 1, 2 học chủ yếu chữ Thái, sang lớp ba mới học chữ phổ thông. Khi lên lớp 3, 4 thì trình độ chữ phổ thông của các em học chữ Thái không bằng các em học chữ phổ thông từ lớp vỡ lòng trở lên, tạo nên trình độ học sinh học chữ Thái với học sinh học chữ phổ thông không đồng đều.

Ba là, chữ Thái cổ không được học, khu chủ trương xây dựng bộ chữ Thái cải tiến để dùng cho dễ: để các may, dấu thanh điệu xuống chung một dòng. Khi tổ chức phổ biến, học ở các trường phổ thông, không được nhiều người tán thành, vì sao không tiếp tục học chữ Thái cổ thống nhất. Tạo nên khó khăn mới trong việc dạy chữ Thái. Trong khi đó một số vùng lại không muốn học chữ Thái, chỉ học chữ phổ thông.

            Chính từ đó, ta thấy nguyên nhân sâu xa là chưa có sự nhận thức thống nhất việc dạy chữ Thái như thế nào cho phù hợp với lòng dân, tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái. Vậy thì nên tổ chức học như thế nào cho phù hợp?

            Tiếng nói, chữ viết là nền văn hóa cơ bản của mỗi dân tộc, dân tộc nào có chữ viết sớm thì dân tộc đó văn minh và có ý thức bảo vệ nền văn hóa của mình, dùng chữ có ký hiệu để bảo tồn văn hóa của mình. Dân tộc Thái là một trong những dân tộc như vậy. Cho nên mới có hàng ngàn cuốn sách chữ Thái cổ để lại cho thế hệ sau, được quan tâm sưu tầm, lưu giữ tại Thư viện tỉnh, Bảo tàng tỉnh và còn ở trong dân.

            Hiến pháp đã chỉ rõ Nhà nước tạo mọi điều kiện để các dân tộc thiểu số bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán tốt đẹp của mình. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX), Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI), Kết luận số 76 Trung ương khóa XII đều chỉ rõ cần phải bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc. Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nhưng cho đến nay vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc khi thực hiện việc học và dạy chữ Thái ở hệ thống giáo dục công lập địa phương.

            Trong khi đó, nhân dân thực hiện việc bảo tồn, sử dụng chữ Thái chủ yếu theo hình thức tự phát. Một số người tâm huyết vẫn sử dụng chữ Thái trong sáng tác văn thơ tiếng dân tộc; trong các gia đình, bản làng, những ông mo vẫn dùng chữ Thái để ghi chép sổ sách của mình. Cho đến nay đã có hai tỉnh Điện Biên, và Sơn La đã ban hành Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận bộ chữ cái dân tộc Thái, giao cho Sở Giáo dục và Đào tạo làm phương án tổ chức dạy học trong các trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên và trong nhân dân. Đó là điều rất mừng, vì đó là hai tỉnh có nhiều người Thái nhất.

Tỉnh Sơn La đã biên soạn xong tài liệu dạy chữ Thái cho cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, Chứng chỉ học chữ Thái được tính tương đương với chứng chỉ ngoại ngữ trong hồ sơ xét, thi nâng ngạch, nâng hạng chuyên viên chính, viên chức. Tài liệu biên soạn theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục - Đào tạo, đã tổ chức học 5 năm nay, đang tiếp tục chỉnh sửa dần cho phù hợp với đối tượng học. Ở tỉnh Điện Biên, Sở Giáo dục- Đào tạo đang biên soạn sách giáo khoa chữ Thái cho các lớp của trường phổ thông.

            Vậy, việc tổ chức biên soạn tài liệu, sách giáo khoa học chữ Thái như thế nào là phù hợp với tình hình mới hiện nay. Theo tôi cần phải làm theo các bước như sau:

Thứ nhất, theo văn bản hướng dẫn của Thủ tướng chính phủ, các tỉnh có người Thái, Ủy ban nhân dân tỉnh phải ban hành Quyết định công nhận bộ chữ Thái được tổ chức dạy học ở tỉnh mình. Bộ chữ đó được nhiều người thừa nhận, sử dụng phổ biến.

            Thứ hai, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn tài liệu, sách giáo khoa dùng trong dạy và học tiếng, chữ dân tộc, trong đó có dân tộc Thái. Có bộ phận tham mưu riêng để giúp Giám đốc Sở chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức học tiếng, chữ các dân tộc, trong đó có dân tộc Thái. Tài liệu, sách giáo khoa phải phù hợp với hai đối tượng sau: (1) Học sinh các trường phổ thông; (2) Học viên các trung tâm giáo dục thường xuyên, chủ yếu là cán bộ, CCVC.

            Thứ ba, nội dung tài liệu, sách học không theo lối cũ đã làm từ xưa đến nay mà phải tập trung vào bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Không dịch các tác phẩm văn học phổ thông sang, không dạy toán, lịch sử, địa lý, hóa…. Nội dung cần tập trung vào các nội dung:

            * Hướng dẫn học chữ cái, cách ghép vần, tập đọc, tập viết (đối với học sinh phổ thông là cấp tiểu học; đối với cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân là chương một)

            * Đồng dao, ca dao, tục ngữ, câu đố về thiên nhiên, xã hội, khuyên dạy làm người (tùy từng đối tượng mà phân chia cho phù hợp: Học sinh phổ thông, học sinh tại Trung tâm giáo dục thường xuyên và nhân dân).

            * Giới thiệu và phân tích một số tác phẩm chủ yếu, các tác giả tiêu biểu: Thơ giao duyên cổ chọn lọc; Tác phẩm truyện thơ: Sống chụ xon xao, Khun Lù Nàng Ủa, Chương Han, Hiền Hom, Cầm đôi, Nàng hổ…;Tác phẩm thơ ca mới, ca ngợi Đảng, Bác Hồ, quê hương đất nước đổi mới của một số nhà văn nhà thơ tiêu biểu.

            * Giới thiệu một số nghi lễ, phong tục tập quán của dân tộc Thái: Cúng Mường (Xên mường), cúng bản (Xên bản), cúng tổ tiên hàng năm (xên hưỡn), cưới xin, tang lễ……

            Như vậy mới phù hợp với tình hình hiện nay, sát với nhu cầu của nhân dân, phù hợp với yêu cầu cán bộ công tác ở vùng dân tộc, sát với đối tượng học. Điều đó cũng thể hiện cụ thể việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc trong giai đoạn mới hiện nay./.

 

                                                                         Nghệ nhân Ưu tú Lò Văn Lả

                                                                                            Tổ 7, phường Tô Hiệu

 


Các tin khác:

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 90
Hôm qua : 90
Tháng này : 1377
Tổng truy cập : 53825
Đang trực tuyến : 2