Đường dây nóng: 0212.3850221

SƠN LA THỰC HIỆN LUẬT DI SẢN VĂN HÓA

Cập nhật: 17:46:01 21 / 04 / 2022
Lượt xem: 69

      Năm 1945, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc giữ gìn di sản văn hóa dân tộc. Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam. Sau Sắc lệnh số 65/SL, ngày 29/10/1957, Nghị định số 519-TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Thủ tướng Chính phủ ban hành đã tạo điều kiện cho ngành văn hóa tiến hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh ở các tỉnh và thành phố trên toàn miền Bắc; giúp bảo vệ những di tích quan trọng nhất của đất nước. Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hội đồng Nhà nước công bố ngày 04/4/1984, đã chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của dân tộc. Những sắc lệnh, nghị định, pháp lệnh này thể hiện tư duy lý luận của Đảng và nhà nước ta đối với việc bảo tồn các di sản văn hóa ở những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể, luôn có sự phát triển, phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội ở những giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước. Năm 2001, Quốc hội đã ban hành Luật Di sản văn hóa và được sửa đổi, bổ sung năm 2009, là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam để điều chỉnh các hoạt động về di sản văn hóa, ngoài tính hệ thống và tầm bao quát của luật thì lần đầu tiên các di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào nội dung quản lý và điều chỉnh của bộ luật này. Đó là sự phát triển tư duy lý luận của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong việc hoàn chỉnh bộ Luật Di sản văn hóa, mà không phải quốc gia hiện đại nào cũng đạt được.

      Đối với tỉnh Sơn La, những cơ sở pháp lý của Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành và tỉnh triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả và thành tích đáng ghi nhận về hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của tỉnh. Tuy nhiên, sau 20 năm Luật Di sản văn hóa, 10 năm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa và các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành Luật được ban hành đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập mà trong quá trình triển khai thực hiện gây khó khăn cho hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở địa phương. Vì vậy, cần có sự điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi để hoàn thiện, đáp ứng với yêu cầu bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam cũng như phù hợp với các công ước quốc tế.

      Có thể khẳng định rằng, trong điều kiện là một tỉnh miền núi, còn nhiều khó khăn nhưng tỉnh Sơn La rất quan tâm đến công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tại địa phương, thể hiện bằng các chủ trương, chỉ đạo, bố trí nguồn kinh phí thực hiện. Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đặc biệt là cán bộ làm công tác di sản đã rất chủ động, cố gắng để tham mưu ban hành các văn bản, đề án, kế hoạch và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Với một số kết quả đáng ghi nhận:

       Về công tác chỉ đạo, ban hành chính sách: Đã tham mưu cho Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành chính sách Quy định nội dung và mức chi cho công tác thăm dò và khai quật khảo cổ; tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quy định, quy chế, đề án, các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để thực hiện công tác bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại địa phương như:

       Lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể: Kế hoạch kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể giai đoạn 2011-2016; Đề án "Bảo quản, dịch thuật, khai thác, phát huy di sản văn hóa sách chữ Thái cổ tỉnh Sơn La giai đoạn 2011-2014"; Đề án "Sưu tầm và phổ cập một số điệu xòe mang bản sắc văn hóa các dân tộc Sơn La" năm 2014-2015; Kế hoạch Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Sách chữ Thái cổ tỉnh Sơn La giai đoạn 2017-2019; Kế hoạch Phổ cập một số điệu Xòe mang bản sắc văn hóa các dân tộc Sơn La giai đoạn 2017-2019; Kế hoạch bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, giai đoạn 2021-2025; Kế hoạch lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể giai đoạn 2017-2020; giai đoạn 2021-2025; Kế hoạch bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia giai đoạn 2020-2023; Đề án Lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa Nghệ thuật Xòe Thái trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại giai đoạn 2016-2021; Kế hoạch lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa Nghệ thuật Nghi lễ Mo Mường trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại giai đoạn 2020-2023.

      Lĩnh vực di sản văn hóa vật thể: Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản: Quy chế quản lý thu, chi nguồn công đức tại các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và công trình văn hóa - tâm linh trên địa bàn tỉnh; Quy định bảo vệ, phát huy di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh; Nhất trí đề xuất xây dựng đề án "Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Bảo tàng Sơn La gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030"; phê duyệt danh mục tổng kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Sơn La 5 năm/lần; xếp hạng các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp tỉnh…

       Về kết quả triển khai thực hiện

      Lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể: Từ năm 2011-2016, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các địa phương tiến hành kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của 09 dân tộc thiểu số theo 07 loại hình di sản văn hóa phi vật thể được quy định tại Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 09/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Qua công tác kiểm kê, đã đánh giá được thực trạng việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc tại các địa phương. Đồng thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc với việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc mình, kết hợp tuyên truyền trực tiếp với người dân về giá trị di sản mà họ đang nắm giữ, để họ thấy tự hào về di sản, cùng chung tay gìn giữ và phát huy di sản; xây dựng các đề án, kế hoạch, đề ra các giải pháp để thực hiện.

      Từ năm 2012 - 2021, tỉnh Sơn La đã lập được 15 hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của các dân tộc, trong đó đã có 12 di sản được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố Danh mục quốc gia. Tỉnh Sơn La đã phối hợp với các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái và Viện Văn hóa - Nghệ thuật Quốc gia lập hồ sơ di sản văn hóa Nghệ thuật Xòe Thái trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, hồ sơ đã được UNESCO ghi danh ngày 15/12/2021. Các di sản được công bố Danh mục quốc gia, Unesco góp phần bảo tồn, phát huy và tôn vinh giá trị di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc.

     Đề án và kế hoạch giai đoạn bảo tồn và phát huy giá trị sách chú Thái cổ đã thực hiện được cơ bản các mục tiêu đề ra đó là: Kiểm kê toàn bộ số sách chữ Thái cổ (hơn 1.600 cuốn) hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh và Thư viện tỉnh; lược thuật tất cả nhưng cuốn sách chưa được lược thuật; dịch thuật hơn 100 cuốn sách có giá trị sang chữ Thái hệ UNICOD, phiên âm và chữ quốc ngữ; scan, số hóa được gần 1.000 cuốn sách; mua sắm trang thiết bị để bảo quản sách. Việc bảo tồn và phát huy giá trị sách chữ Thái cổ góp phần bảo tồn văn hóa phi vật thể của dân tộc Thái nói riêng và bảo tồn tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số nói chung.

     Thực hiện Đề án và Kế hoạch Phổ cập một số điệu Xòe mang bản sắc văn hóa các dân tộc Sơn La, đã nghiên cứu, sưu tầm và phổ cập 06 điệu xòe cổ của người Thái ở Sơn La phổ cập đến các đội văn nghệ quần chúng, các cơ quan, trường học, lực lượng vũ trang trên địa bàn toàn tỉnh. Đề án đã góp phần thúc đẩy phong trào văn nghệ quần chúng tỉnh Sơn La tiếp tục phát triển mạnh mẽ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, giới thiệu quảng bá về văn hóa các dân tộc Sơn La.

     Thực hiện Kế hoạch bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, đã nghiên cứu, khảo sát, tư liệu hóa được một số làn điệu dân ca, dân vũ; nghề thủ công truyền thống, chế tác nhạc cụ; một số nghi lễ, tục lệ và tổ chức truyền dạy một số làn điệu dân ca, dân vũ, nghệ thuật trình diễn dân gian của một số dân tộc.

     Lĩnh vực di sản văn hóa vật thể: Thực hiện Luật Di sản văn hóa, ít nhất 5 năm/lần, tỉnh Sơn La tổ chức Tổng kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn toàn tỉnh trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh mục. Từ năm 2010-2020, đã tiến hành Tổng kiểm kê di tích 03 lần vào các năm: 2010, 2015, 2020 (hàng năm phê duyệt bổ sung danh mục cho các di tích phát hiện mới). Năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La ban hành Quyết định số 852/QĐ-UBND ngày 07/5/2021 về việc phê duyệt Danh mục di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Sơn La đến năm 2020. Trong đó trên địa bàn toàn tỉnh Sơn La có 89 di tích, bao gồm:

     Về xếp hạng (63 di tích): Quốc gia đặc biệt: 01 di tích; quốc gia: 16 di tích; cấp tỉnh: 46 di tích; chưa xếp hạng: 26 di tích.

     Về loại hình (có đủ 04 loại hình): lịch sử - văn hóa: 53 di tích; kiến trúc nghệ thuật: 02 di tích; khảo cổ: 11 di tích; 23 danh lam thắng cảnh.

     Về địa bàn (phân bố trên địa bàn 12 huyện, thành phố của tỉnh): Thành phố Sơn La: 08 di tích; huyện Thuận Châu: 07 di tích; huyện Mộc Châu: 21 di tích; huyện Vân Hồ: 11 di tích; huyện Phù Yên: 04 di tích; huyện Mai Sơn: 08 di tích; huyện Sông Mã: 02 di tích; huyện Sốp Cộp: 01 di tích; huyện Mường La: 06 di tích; huyện Bắc Yên: 05 di tích; huyện Quỳnh Nhai: 05 di tích; huyện Yên Châu: 11 di tích.

     Từ năm 2010 - 2020, tỉnh Sơn La đã được xếp hạng 01 di tích quốc gia đặc biệt, 07 di tích quốc gia, 19 di tích cấp tỉnh. Các di tích sau khi được xếp hạng đều bàn giao, phân cấp về cho các địa phương quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị.

     Hàng năm, bằng nguồn kinh phí từ chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2011-2015, Chương trình phát triển văn hóa giai đoạn 2016-2020; Nguồn kinh phí của địa phương và nguồn xã hội hóa, tỉnh Sơn La đã quan tâm tu bổ, tôn tạo, chống xuống cấp di tích các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh, cụ thể: có 01 di tích quốc gia đặc biệt; 10/16 di tích quốc gia; 17/47 di tích cấp tỉnh được tu bổ, tôn tạo. Các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh của tỉnh Sơn La cơ bản ít có sự xâm hại, lấn chiếm đất của di tích.

     Di vật, cổ vật của tỉnh Sơn La chủ yếu được sưu tầm bảo quản, bảo vệ tại kho cơ sở của Bảo tàng tỉnh theo đúng quy định. Không có các di vật, cổ vật tại các di tích, không có tình trạng mất mát, hỏng hóc di vật, cổ vật.

     Sau khi các di tích được kiểm kê, phê duyệt danh mục (di tích đã xếp hạng và di tích chưa được xếp hạng) đều phân cấp, bàn giao về cho các địa phương (Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố) quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị. Hiện nay, đã có 63 di tích được xếp hạng các cấp, tuy nhiên chỉ có rất ít di tích phát huy được giá trị, chủ yếu là các di tích tại địa bàn thành phố Sơn La và khu du lịch quốc gia Mộc Châu (huyện Mộc Châu) như: Di tích Nhà tù Sơn La, Di tích Văn bia Quế Lâm ngự chế - Đền thờ Vua Lê Thái Tông (thành phố Sơn La, giao Bảo tàng tỉnh quản lý); Di tích lưu niệm Trung đoàn Tây Tiến; Di tích Đồn Mộc Lỵ; Di tích Hang Dơi; Danh thắng Thác Dải Yếm (huyện Mộc Châu); Khu di tích cách mạng Việt Nam - Lào (huyện Yên Châu); Di tích Kỳ đài Thuận Châu (huyện Thuận Châu); Di tích Tháp Mường Và (huyện Sốp Cộp); Di tích Đền thờ Hai Bà Trưng (huyện Sông Mã).

     Thực hiện Nghị định số 62/2014/NĐ-CP của Chính phủ, từ năm 2015 đến nay, tỉnh Sơn La đã tổ chức xét công nhận cho 03 đợt (3 năm/lần): Đã có 28 nghệ nhân được công nhận là Nghệ nhân Ưu tú lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể; năm 2020, tỉnh Sơn La đã tổ chức xét tại Hội đồng cấp tỉnh và trình cấp Nhà nước vinh danh 02 Nghệ nhân Nhân dân và 11 Nghệ nhân ưu tú. Sau khi được công nhận, đã thực hiện được chính sách hỗ trợ cho một số nghệ nhân.

     Hoạt động bảo tàng

     Bảo tàng Sơn La được thành lập ngày 02/3/1985 theo Quyết định số 124/QĐ-TC của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, năm 2007 được nâng lên Bảo tàng loại II theo Quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Hiện nay Bảo tàng tỉnh Sơn La trực tiếp quản lý 6 địa điểm: Di tích Quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La (gồm khu nhà tù và 3 điểm di tích vệ tinh là Nghĩa trang liệt sỹ Nhà tù Sơn La, Di tích Cây đa Bản Hẹo, Giếng nước), Di tích Văn bia Quế Lâm ngự chế - Đền thờ Vua Lê Thái Tông, Tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc và Đền thờ Bác Hồ (tại thành phố Sơn La) và Nhà trưng di sản văn hóa vùng lòng hồ Thủy điện Sơn La (tại huyện Mường La, cách thành phố Sơn La 40km).

     Về hoạt động trưng bày: Bảo tàng tỉnh Sơn La chưa có không gian trưng bày Bảo tàng, có một số phòng trưng bày chuyên đề thường xuyên trong khuôn viên Di tích quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La: (1) Trưng bày bổ sung cho Di tích quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La, (2) Trưng bày về Thời kỳ Tiền sử - sơ sử ở Sơn La, (3) Trưng bày về các di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia, (4) Trưng bày “Vượt ngục 1943”, (5) trưng bày về Di sản văn hóa vùng lòng hồ thủy điện Sơn La. Hàng năm, Bảo tàng tỉnh được giao tổ chức các cuộc trưng bày triển lãm phục vụ các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, gắn với các sự kiện, các ngày lễ lớn (trung bình 3 cuộc/năm). Có những năm, Bảo tàng tổ chức tới 10 - 12 cuộc triển lãm.

     Về hoạt động giáo dục và công chúng: Từ năm 2010 đến nay, trung bình mỗi năm Bảo tàng Sơn La đón trên 200.000 lượt khách tham quan khu di tích Nhà tù Sơn La và các điểm di tích do Bảo tàng quản lý. Hoạt động hướng dẫn, thuyết minh cho khách tham quan tại Bảo tàng cơ bản đã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và để lại nhiều ấn tượng tốt đối với du khách. Bảo tàng Sơn La đã quan tâm chỉ đạo việc phối hợp với Phòng Giáo dục - Đào tạo các huyện và thành phố đưa chương trình tuyên truyền giáo dục lịch sử địa phương đến các trường học trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt quan tâm đến các trường học ở vùng sâu, vùng xa, biên giới khó khăn, vùng tái định cư Thủy điện Sơn La, tân binh lực lượng vũ trang, các đồn biên phòng. Hiện nay, Bảo tàng đã xây dựng 08 chuyên đề tuyên truyền gồm: các pano ảnh, bản trình chiếu powerpoint cùng nội dung thuyết minh phục vụ công tác giáo dục truyền thông. Bên cạnh việc triển khai giáo dục truyền thống tại sơ sở, Bảo tàng còn phối hợp với các trường phổ thông, Cao đẳng, Đại học, các đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn thành phố Sơn La tổ chức các hoạt động giáo dục tại điểm gắn với công tác chăm sóc di tích Nhà tù Sơn La, Văn bia Quế Lâm ngự chế - Đền thờ Vua Lê Thái Tông. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về nhân vật, sự kiện lịch sử, di sản văn hóa địa phương bằng các hình thức như: “Rung chuông vàng”, trải nghiệm “Em yêu lịch sử”, cuộc thi viết tại các trường...   Năm 2018, 2019, 2020, 2021 Bảo tàng đã tổ chức 10 cuộc sinh hoạt văn hóa để tìm hiểu về văn hóa các dân tộc ở Sơn La, thu hút đông đảo khách tham quan và các em học sinh tham gia.

     Về tư liệu - hiện vật và hoạt động bảo quản: Bảo tàng Sơn La hiện nay đang lưu giữ và bảo quản hơn 20.000 tư liệu, hiện vật, gồm có các loại hình: Hiện vật khảo cổ học; Hiện vật thời kỳ phong kiến; Hiện vật thời kỳ kháng chiến chống Pháp; Hiện vật thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; Hiện vật dân tộc học; Phim, ảnh; Hồ sơ tù chính trị bị giam cầm tại Nhà tù Sơn La…Bảo tàng có những nhóm hiện vật rất tốt, quý và có giá trị. Phần lớn hiện vật đã được kiểm kê. Hệ thống phim, ảnh, băng đĩa hình cũng đang được kiểm kê, lập danh mục.

     Về hoạt động truyền thông, quảng bá du lịch và phát triển công chúng: Hoạt động truyền thông, quảng bá du lịch và phát triển công chúng đã được Bảo tàng chú trọng trong những năm gần đây. Năm 2019, trang Web www.baotangsonla.vn đã ra mắt công chúng, giới thiệu các chương trình, hoạt động và quảng bá hình ảnh của Bảo tàng. Bộ nhận diện thương hiệu và logo Bảo tàng Sơn La cũng đã được xây dựng, góp phần quảng bá, xúc tiến du lịch. Bảo tàng bước đầu tổ chức lấy ý kiến đánh giá của công chúng về các hoạt động. Hàng năm, Bảo tàng phối hợp với Đài Phát thanh -Truyền hình tỉnh, Đài Truyền hình Trung ương phát sóng 3- 5 chuyên mục về di sản văn hóa, giới thiệu các di tích, danh thắng tiêu biểu, lễ hội truyền thống và hoạt động phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Một số tờ rơi, tập gấp song ngữ Anh - Việt giới thiệu về các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Sơn La đã được xây dựng, in ấn và phát tại các khu di tích, trường học trong tỉnh, gửi đến các công ty du lịch lữ hành ở Sơn La. Bảo tàng cũng đã sản xuất 01 phim tư liệu quảng bá về di tích quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La.

       Hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

       Phối hợp tổ chức lập hồ sơ khoa học xếp hạng quốc gia Di tích lịch sử Cách mạng Việt Nam - Lào tại bản Lao Khô I, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu; Thực hiện dự án tu bổ, xây dựng di tích và khánh thành năm 2017 nhân dịp kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào. Xây dựng chương trình phối hợp về hoạt động di sản giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Sơn La (Bảo tàng tỉnh Sơn La) với Bảo tàng Cay xỏn Phôm vi hản (nước CHDCND Lào). Tổ chức các cuộc trưng bày triển lãm vào năm 2018 (tại tỉnh Hủa Phăn), 2019 (tại Bảo tàng Cay xỏn Phôm vi hản, Viêng Chăn) trong khuôn khổ chương trình phối hợp và tổ chức các ngày hội văn hóa - du lịch của 02 nước, Sơn La với các tỉnh Bắc Lào. Năm 2017, tỉnh Sơn La đăng cai tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng biên giới Việt Nam - Lào với sự tham gia của 9 tỉnh (Việt Nam) và 17 tỉnh (Lào).

       Một số hạn chế

     Hạn chế về việc tổ chức thực hiện Luật Di sản văn hóa: Đa số các di tích chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ có biên bản và bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích (không có giá trị pháp lý về đất đai), nên khi thực hiện các dự án đầu tư tu bổ, tôn tạo các di tích phải thực hiện công tác giải phóng mặt bằng trong diện tích đất khoanh vùng bảo vệ khu vực I hay sảy ra tranh chấp, khó giải phóng được mặt bằng để thực hiện dự án. Đa số di tích chưa phát huy hoặc phát huy giá trị còn hạn chế. Do các di tích nằm rải rác, chủ yếu là các di tích cách mạng, phân bố ở vùng sâu, xa, đường giao thông đi đến di tích rất khó khăn, nhiều di tích chưa được đầu tư kinh phí để phục hồi, tu bổ.

     Hạn chế về tuân thủ Luật Di sản văn hóa: Cơ bản các cấp, các ngành và người dân tuân thủ tốt Luật Di sản văn hóa. Tuy nhiên, vẫn có sai phạm về việc lấn chiếm đất đai của di tích, xâm phạm di tích. Do nguồn kinh phí đầu tư cho công tác bảo tồn di sản còn khó khăn, biên chế được bố trí cho hoạt động bảo tồn di sản còn mỏng, thiếu các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao nên việc phát huy di sản còn hạn chế.

     Hạn chế về quy định của Luật và hướng dẫn thi hành luật: Một số quy định của Luật Di sản văn hoá chưa được cụ thể hoá bằng các văn bản dưới Luật. Một số hướng dẫn, quy định đã được ban hành nhưng chưa đầy đủ, đồng bộ, thống nhất nên khó khăn trong thực hiện về cả công tác quản lý và hoạt động sự nghiệp. Cơ chế, chính sách chưa đảm bảo để thực hiện có hiệu quả Luật Di sản văn hoá. Có loại hình di sản như: Di sản tư liệu chưa được quy định trong Luật Di sản văn hoá.

     Một số giải pháp cơ bản để thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

     Một là: Cần không ngừng nâng cao nhận thức đúng đắn của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cộng đồng về vai trò quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Giải pháp này phải được thực hiện thông qua việc xây dựng, thực thi các cơ chế, chính sách, các hoạt động tuyên truyền và giáo dục cộng đồng để mang lại hiệu quả thực tế.

     Hai là: Nhà nước cần tiếp tục tăng cường đầu tư cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là đầu tư kinh phí cho việc tu bổ di tích, sưu tầm hiện vật bảo tàng và đầu tư cho lĩnh vực ứng dụng khoa học - công nghệ, đồng thời có chính sách động viên, khích lệ quần chúng phát huy vai trò chủ động, tích cực đóng góp tiền của, công sức cho hoạt động, quần chúng phải thực sự giữ vai trò vừa là chủ nhân sáng tạo, gìn giữ di sản văn hóa, vừa là những người trực tiếp được hưởng thụ thành quả.

     Ba là: Cần gắn kết việc giữ gìn, phát huy di sản văn hóa, với việc xây dựng, giữ gìn môi trường sinh thái văn hóa, đời sống văn hóa cộng đồng làng bản, nhằm mục tiêu đảm bảo về đời sống kinh tế cho người dân. Sự gắn kết này cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sẽ tạo được sự phát triển và ổn định thực sự của từng cộng đồng gia đình, bản và cả tỉnh.

     Bốn là: Nhà nước và nhân dân cùng tham gia bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa, nhà nước đầu tư tổ chức đào tạo nghề truyền thống cho lớp trẻ, xét tặng danh hiệu cao quý cho các nghệ nhân, ban hành chế độ chính sách khuyến khích các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

      Năm là: Bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phải được phối hợp chặt chẽ với việc phát triển du lịch bền vững. Giải pháp này không chỉ giúp khai thác ngày càng nhiều tiềm năng của di sản văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, mà còn luôn giữ gìn được di sản văn hóa dân tộc, tức là giữ gìn bản sắc văn hóa trước mọi thử thách của xu hướng toàn cầu hóa.

       Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Trong quá trình thực hiện Luật Di sản văn hóa, cần có sự sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước, nhu cầu và sự chung tay của người dân./.

 

Ngô Thị Hải Yến - GĐ Bảo tàng Sơn La


Các tin khác:

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 17
Hôm qua : 17
Tháng này : 17
Tổng truy cập : 73562
Đang trực tuyến : 1