Đường dây nóng: 0212.3850221

CHĂN CỦA NGƯỜI THÁI (PHÀ)

Cập nhật: 04:36:36 06 / 05 / 2020
Lượt xem: 6300

           Cơm lam, rượu cần, múa xoè… ấy là những đặc sản nổi tiếng mà người ta có dịp thưởng thức vào những dịp lên thăm Sơn La. Một thứ đặc sản khác của vùng đất này mà du khách không thể không nhắc tới là thổ cẩm. Đó là món quà kỷ niệm  mang đậm nét đẹp của vùng sơn cước. Sơn La nổi tiếng với những cô gái Thái xinh đẹp, múa xoè hay; hơn thế nữa, họ còn rất khéo tay trong việc làm thổ cẩm.

           Từ lịch sử lâu đời, những sản phẩm được làm từ vải đã chiếm một phần không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người Thái. Cho đến bây giờ chúng vẫn luôn giữ được những giá trị từ nhu cầu mặc, nhu cầu nghi lễ tinh thần đến nhu cầu làm đẹp và vui chơi. Hơn thế những sản phẩm đồ vải góp phần thể hiện và giữ gìn bản sắc văn hóa Thái.

           Trong xu thế hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc không thể không kể đến hình ảnh của những sản phẩm đồ vải này. Chúng có mặt từ trong lịch sử, gắn bó với con người và tạo nên những nét riêng nhất, bản sắc nhất cho cả dân tộc. Dù đã trải qua quá trình phát triển lâu dài nhưng đến nay những sản phẩm đồ vải truyền thống này vẫn luôn được người dân ưa dùng. 


 

Chăn (phà) là một sản phẩm đồ vải đặc sắc của người Thái được biết đến với những hoa văn đẹp mắt, có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống của đồng bào và còn là sản phẩm phục vụ cho du lịch cũng như cho sinh hoạt hàng ngày.

Chăn có 2 phần là ruột chăn và vỏ chăn:

- Ruột chăn được làm từ bông lau, với lớp vỏ bọc sợi vải xô để cố định phần bông bên trong. Ruột chăn có kích cỡ thường là cho 1-2 người nằm, chiều rộng khoảng 90cm, chiều dài là 1,6m. Chiếc chăn của người Thái luôn bị coi là hẹp bởi thường chỉ vừa 1 người sử dụng.

- Vỏ chăn được làm rất công phu và cầu kì. Việc trang trí màu sắc vải có một nguyên tắc rất nghiêm ngặt. Phà của người Thái Đen chọn màu vải trắng cho mặt dưới chiếc vỏ chăn. “Mặt trên của vỏ chăn thường là tấm vải thổ cẩm có thêu rất nhiều họa tiết, hoa văn độc đáo. Những hoa văn ấy có tính chất đối xứng với nhau, dù là lối ghép vải hay là thêu hoa văn hay là dệt hoa văn chìm nổi”. Theo nhà dân tộc học Hoàng Trần Nghịch cho biết, hoa văn Thái cổ có năm loại hình quan trọng nhất mà hầu như mọi sản phẩm đồ vải có thêu đều có là:

+ Hoa văn hình cây dương xỉ (phắc cút phà): đây là hình ảnh tượng trưng cho nương rẫy, là hình ảnh đơn giản nhưng rất quan trọng bởi nương rẫy là nơi không thể thiếu trong cuộc sống cùa người dân, dân ca Thái có câu: “hạn hán thì dương xỉ áo vàng, trời mưa rào thì áo xanh”. Hình ảnh Khau cút của ngôi nhà sàn Thái cũng là mô phỏng lá của loài cây này.

+ Hoa văn hình rau bợ (phắc ben) là thể hiện cho đồng ruộng. Đây cũng là nơi gắn bó nhất và thường xuyên liên quan đến cuộc sống của đồng bào, họ ca ngợi cây này bằng lời hát:

Chaư nặm heng phắc ben non

Chaư nặm khửn phắc ben tựn

(Khi nước cạn thì hoa bợ nằm

Khi nước dâng thì hoa bợ đứng)

+ Ngoài ra còn có các hình hoa mướp, hoa cải,… cũng là những vật, những hoa, những thứ thường xuyên xuất hiện xung quanh cuộc sống đồng bào, có tác động trực tiếp tới tri giác của họ, và được phản ánh qua mặt phà. Dây mướp trong các loại hoa văn còn là hình ảnh tượng trưng cho “dây” (sài) trong quan niệm về những vật quan trọng của người Thái.

+ Các hoa văn hình cây cối là thế, còn hoa văn động vật có hình 3 loài chính là: con nhện (tô cú), con khỉ (tô linh), con cua (tô pu). Đây là những loài bị người dân ghét nhưng cũng là những loài được dùng làm thuốc; tô cú giăng tơ khắp nhà làm bẩn không gian sống của đồng bào nhưng khi có người bị rắn cắn nó lại là thứ thuốc chữa nọc độc; tô linh là loài hay ăn trộm hoa màu của đồng bào nhưng lại cũng là thứ thuốc bổ chữa nhiều bệnh; tô pu là loài ngang ngạnh hay làm phá hỏng bờ ruộng của đồng bào nhưng khi cần nó lại là vị thuốc giải độc.      

Đây là 3 loại hoa văn con vật chính mà đồng bào hay sử dụng thêu lên mặt phà cũng như nhiều sản phẩm khác. Với hàm ý là thể hiện tinh thần lạc quan, sống bất chấp mọi vật cản, khó khăn vẫn vươn lên giành lấy sự sống trong những điều tưởng như chính là bất lợi nhất.

Thống kê hình hoa văn người Thái hay thêu lên các sản phẩm đồ vải:

Hình động vật

   Nạc non xai

   Tô ngu

   Tô linh

   Tô bờ

   Tô nộc nhung

   Tô chạng

   Tô mạ

   Tô ngược

   Tô quang

   Con rái cá

   Con rắn

   Con khỉ

   Con bướm

   Con công

   Con voi

   Con ngựa

   Con rồng

   Con nai

Hình thực vật

Phắc cút

Phắc ben

   Càn pạo

   Đoóc đâm

   Rau dớn

   Rau bợ

   Lá dừa

   Một loại hoa

Các mô típ khác

Tả nghên

    Mác đao

    Ho coong

    Mặt trời

    Ngôi sao

     Dàn treo chiêng

Ngoài hoa văn của người Thái, còn có nhiều dân tộc khác, so sánh để cho thấy sự khác biệt ấy, tôi xin có một số so sánh sau:

Người Khmer: Trong khi thổ cẩm của các dân tộc phía Bắc thường được ghép lại bằng những mảng vải màu rồi mới thêu hoa văn lên trên, thì sản phẩm của người Khmer lại tạo hoa văn trực tiếp ngay khi dệt sợi.

Người H’Mông : Những ô trang trí đường diềm hình chữ thập, chữ đinh, chữ công được chuyển biến một cách đa dạng, kết hợp với các ô hình quả trám hoặc tam giác có các đường viền hình gẫy khúc trong các thể bố cục khác

 Người Chăm : Màu sắc nền vải được ưa chuộng là đen hay đỏ, họa tiết trang trí phần lớn có dạng hình học.

Người Dao : Người Dao chuộng dùng màu đỏ tươi rực rỡ để trang trí : khăn đỏ, bông trên ngực áo, cổ áo... Kỹ thuật thêu thoáng để lộ nền đen, nền chàm trong các họa tiết, có tác dụng làm giảm độ rực chói của các màu nguyên sắc, tạo cho chung độ chuyển sắc êm, trầm, nhuần nhụy.

Người H’re : Người Hre thích 2 màu đỏ và đen, hoa văn theo mô típ hình học như hình thoi, hình quả trám, hình chữ nhật, hình vuông... được liên kết thành những ô nối tiếp nhau; hoa văn đường thẳng, đường lượn sóng... tạo nên hình dáng cách điệu con sông, con suối; hoặc hoa văn có hình giống các loài vật trong thiên nhiên

Người Bana : Màu sắc chủ đạo là đen, đỏ, trắng. Họa tiết đối xứng phản ánh quan niệm về vũ trụ, âm dương, trời đất. Hoa văn thể hiện cảnh thiên nhiên, đường nét văn hóa và đời sống sinh hoạt hàng ngày của người Ba Na.

Người LôLô :  Người Lô Lô sử dụng kỹ thuật chắp vải mầu có thêu với khuôn thức bố cục chặt chẽ, hòa sắc rực rỡ sáng, tươi của các mầu nguyên sắc được bố trí bên nhau làm rõ, làm tăng độ tương phản vốn có.

Người Tày : Bố cục họa tiết theo phương pháp ô quả trám có các đường viền xung quanh tạo thành các đường diềm gãy khác.Trên cơ sở của loại bố cục hoa văn một mầu đen trên nền trắng người Tày gài mầu vào từng đoạn họa tiết, tùy trình độ thẩm mỹ, ý thích của người dệt trên khung dệt thủ công.

 Người Cơtu : Hoa văn dợn sóng tuy đơn giản nhưng nó rất tự nhiên, mộc mạc, những đường nét mờ ảo như mây như sóng. Tuỳ theo ý đồ trang trí, hoa văn dợn sóng được bố trí thành từng mảng, từng vệt, gọi là kluội; hoặc dàn trải, chạy đều trên toàn bộ tấm vải dệt, gọi là chrơ char.

 Người Mường : Thổ cẩm của người Mường mang đậm màu sắc hoa văn của núi rừng và thiên nhiên…Hoa văn trên thổ cẩm thường là những hình cách điệu từ hoa dẻ, hoa hồi, hạt gấc, quả trám… tuy không cầu kỳ nhưng gắn liền với tình yêu thiên nhiên và con người xứ Mường.

  Để nhuộm màu cho vải, bà con thường sử dụng nguyên liệu là các loại cây trong rừng. Màu đỏ là cây bang, màu vàng lấy từ cây nghệ, màu đen lấy từ cây chàm…

Người Nùng : không thêu thùa gì ngoài một số khoang vải có mầu khác với thân áo được đắp vào ống tay áo, vạt áo... Người Nùng cũng dệt thổ cẩm có chung phong cách nghệ thuật, đề tài như thổ cẩm Tày.Ở trung tâm trang trí, các ô vuông đã áp dụng lối bố cục đối xứng quay quanh điểm trung tâm tạo cho đồ án trang trí vẻ vui mắt.

Chiếc chăn đã gắn bó rất lâu đời với đồng bào Thái, đây không còn là 1 vật dụng đơn giản mà còn thể hiện sự khéo léo của người phụ nữ Thái cũng như thế giới quan tinh tế, sáng tạo của cả cộng đồng.

Lường Ngọc Ánh - Phòng NV Bảo tồn - Bảo tàng

 


Các tin khác:

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 226
Hôm qua : 1201
Tháng này : 14695
Tổng truy cập : 4818643
Đang trực tuyến : 8