Không chỉ có những mùa hoa bạt ngàn thơm ngát, không chỉ có những cung đường đèo thu hút những người thích chinh phục mạo hiểm, những bộ trang phục truyền thống muôn hình vạn vẻ của các dân tộc Tây Bắc cũng là một điểm hút hồn du khách thập phương đến với vùng đất hoa thơm quả ngọt này. Tựa như bức tranh đa sắc, những bộ trang phục truyền thống ấy độc đáo như những nét chấm phá đặc sắc tô điểm khắp núi non Tây Bắc, đại diện cho những giá trị thẩm mỹ mà cha ông đã gìn giữ lưu truyền từ xưa đến ngày nay.
Có thể nói người ta như thấy cả một trời Tây Bắc nguyên sơ đầy sắc màu trên những bộ phục trang của các dân tộc miền núi Tây Bắc. Độc đáo,sắc sảo, tinh tế và đầy phong vị tự do. Cũng giống một vài dân tộc thiểu số khác, trang phục truyền thống của người Khơ Mú mang ảnh hưởng trang phục của người Thái, bao gồm Khăn Piêu, áo cóm, váy bằng vải đen, khăn được quấn quanh đầu, khéo léo khoe phần hoa văn ở phía ngoài.

Bà Mòng Thị Ơi dân tộc Khơ Mú, bản Lọng Ôn, xã Mường Và, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
Cũng giống như nhiều dân tộc trong vùng. Phụ nữ dân tộc Khơ Mú dùng cúc áo và những đồ trang sức bằng bạc để đáp ứng nhu cầu làm đẹp, thể hiện sự giàu sang, dùng bạc còn để tránh gió có lợi cho sức khỏe. Cúc áo của người Khơ Mú được đúc bằng bạc, cúc được dùng cho mọi lứa tuổi. Khi áo mặc đã cũ, họ cắt lấy cúc để đơm sang chiếc áo mới. Cúc áo của người Khơ Mú do những người thợ kim hoàn trong bản, mường chế tác và được sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX. Ngày nay nghề trạm bạc của dân tộc Khơ Mú đã bị mai một. Người Khơ Mú chỉ dùng cúc bán ngoài thị trường giống cúc của dân tộc Thái.
.png)
Cúc bạc thường do ông bà cha mẹ tặng cho con gái hoặc do gia đình nhà trai tặng cho con dâu trong ngày cưới. Đây là một trong những món đồ trang sức quý có giá trị kinh tế cao, do đó trong những gia đình khá giả mỗi thành viên nữ thường có vài bộ cúc, còn những gia đình không có điều kiện thì dùng cúc bằng nhôm hay bằng xanh căng.
Cúc áo bạc của dân tộc Khơ Mú có hình dáng to (kích thước khoảng 3,2cm x 2,8 cm/ chiếc) cúc có núm dài, khuy cài hình tròn có độ bền cao không dễ bị tuột. Cúc thường được đúc thành hình con bướm, hình hoa lá, đơm vào hai bên vạt áo. Cúc hình con bướm thường được ưa chuộng sử dụng hơn, vạt bên phải đơm cúc gọi là con đực. Cúc đơm ở vạt áo bên trái là con cái, cách đơm có thể thay đổi theo chiều tay thuận của từng người sử dụng áo. Cúc con đực và con cái cũng có kích thước khác nhau. Khi cài người ta nghiêng núm sao cho núm lọt vào trong lỗ khuy tròn rồi mới xoay trở lại cho núm mắc vào khuy có độ chắc không bị tuột. Khi tất cả hàng cúc được cài tạo thành một đường thẳng với những cánh bướm đậu trên nẹp áo tạo nên vẻ đẹp thật sinh động trên trang phục của người phụ nữ dân tộc Khơ Mú. Ngoài ra, dọc hai bên hàng cúc áo trên áo còn được trang trí bằng những bộ giải hình mặt trời, ở giữa đính những đồng tiền bạc như thể hiện lòng thành kính, mong chờ sự che chở của thần mặt trời cho cuộc sống phồn thịnh, hạnh phúc hơn.
Một bộ cúc áo thường có từ 9 đến 13 đôi tùy theo chiều dài áo nhưng bao giờ cũng là số lẻ, vì theo quan niệm xưa số lẻ là số chưa hoàn thiện đang vươn lên, là số của người sống. Cúc bạc là sản phẩm của nghề trạm bạc dân tộc Khơ Mú. Chọn ngày lành tháng tốt người thợ kim hoàn cho 3 đồng bạc trắng vào bát đất nung nóng chảy rồi đổ ra khuôn, sau đó dát bạc cho mỏng rồi cho vào khuôn dập thành cúc có hình con bướm ở mặt trên (mặt ngoài), còn mặt dưới được hàn một lớp mặt phẳng, công đoạn cuối là đục lỗ để đơm cúc ở 4 góc. Bề mặt của những chiếc cúc đều được trạm khắc 4 hàng chấm tròn theo chiều ngang, những con cái ở 1/2 phía đầu có lỗ khuy tròn cũng được trang trí bởi chấm tròn ở xung quanh.
Vào nhưng dịp lễ tết, người Khơ Mú thường diện những chiếc áo mới được đính hàng cúc áo bằng bạc tinh xảo khoe vẻ đẹp sang trọng, duyên dáng. Những người cao tuổi thường chọn một bộ cúc đẹp đơm vào áo mới để giành khi về với tổ tiên linh hồn cư ngụ trong áo mới siêu thoát được dễ dàng.
Quàng Tố Quyên - Phòng nghiệp vụ Bảo tồn Bảo tàng