“Thuộc lớp các chiến sĩ cách mạng đầu tiên, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được nhiều người biết đến với bí danh Sao Đỏ, (thường gọi thân mật là Anh Cả). Anh là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, kiên trung bất khuất trước quân thù, một người cộng sản mẫu mực về đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
(Lời đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng)
.jpg)
Chân dung đồng chí Nguyễn Lương Bằng
Đồng chí Nguyễn Lương Bằng sinh ngày 2 tháng 4 năm 1904 tại thôn Đông, xã Đoàn Lâm (nay là xã Thanh Tùng) huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước. Năm lên 7 tuổi được đi học chữ Hán và chữ Quốc ngữ, nhưng đến năm 13 tuổi, cha Nguyễn Lương Bằng qua đời nên phải nghỉ học và theo mẹ bươn trải mưu sinh. Nguyễn Lương Bằng phải rời quê hương ra Hải Phòng kiếm sống, chính thời gian này được nghe về các cuộc đấu tranh sôi động ở Thượng Hải, Quảng Châu, Trung Quốc và những câu chuyện về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhà yêu nước Phan Bội Châu, tấm gương hy sinh của Phạm Hồng Thái đã thôi thúc người thanh niên yêu nước ra nước ngoài để học hỏi. Nguyễn Lương Bằng đã xin làm bồi bếp cho tàu Pháp chạy tuyến Hải Phòng - Quảng Châu và trở thành một trong những thành viên đầu tiên của hội Việt Nam cách mạng Thanh niên từ năm 1925 và là học trò xuất sắc, cộng sự đắc lực của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí đã gây dựng được mạng lưới cơ sở cách mạng trong Việt Kiều, tổ chức phát hành báo trong binh lính người Pháp, người Việt. Bị mật thám Pháp ở Thượng Hải truy lùng và bắt năm 1931. Đồng chí bị tra tấn tàn bạo và áp giải về Hỏa Lò, kết án chung thân.
Tại nhà tù Hỏa Lò, đồng chí tham gia vận động thành lập chi bộ Đảng trong tù, được anh em tín nhiệm bầu làm đại diện trong các cuộc đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, buộc địch phải nhượng bộ: bỏ cùm, bỏ xích, cấp chăn, chiếu, bát đũa cho tù nhân… Các cuộc đấu tranh thắng lợi, cái tên Sao Đỏ cũng xuất hiện từ đây. Không chịu lùi bước, đồng chí lên kế hoạch và đã vượt ngục thành công tháng 12/1932.
Trở về Hải Dương, được sự đùm bọc của nhân dân, đồng chí gây dựng được các tổ chức quần chúng và xuất bản báo Công nông. Giữa năm 1933, trong chuyến đi Bắc Giang công tác, đồng chí bị địch bắt lần thứ 2, bị kết án khổ sai chung thân và năm 1935 đồng chí bị đày lên nhà tù Sơn La.
Mặc dù sống nơi tù ngục tăm tối, đồng chí luôn là người đi đầu trong các cuộc đấu tranh chống lại bọn cai ngục, nêu cao tinh thần hy sinh bất khuất trước quân thù “Thà bị nhốt vào hầm tối chứ nhất định không chịu xiềng”. Cai ngục quy đồng chí vào diện cứng đầu, cứng cổ và thường xuyên đầy giam xuống hầm tối. Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp được thành lập, chính quyền thực dân buộc phải trả tự do cho nhiều chiến sỹ cách mạng. Vì vậy, giai đoạn này hàng nghìn tù nhân trong các đề lao của Thực dân Pháp ở Việt Nam được trả tự do. Ở Sơn La, 95 tù nhân được trả về Hà Nội. Nhà tù Sơn La lúc này chỉ còn lại một số tù Cộng sản và tù Quốc dân đảng, những người mà chúng liệt kê vào thành phần đặc biệt nguy hiểm, trong đó có đồng chí: Nguyễn Lương Bằng, Phạm Quang Lịch, Hoàng Đình Dong, Mai Đắc Bân, Trần Văn Quang… Trong tù, đồng chí Nguyễn Lương Bằng kiên cường giữ vững ý chí: đấu tranh không chịu giam chung với tù thường phạm; đòi giữ tủ thuốc để chữa bệnh cho anh em tù chính trị; tổ chức các cuộc đấu tranh chống lại cai ngục bảo toàn lực lượng cách mạng, cải thiện đời sống cho anh em tù nhân. Đồng chí còn dạy văn hóa và giác ngộ cho một số tù Quốc dân Đảng còn bị giam, có người sau trở thành chiến sỹ cộng sản.
Nhà tù Sơn La từng được biết đến là một địa ngục trần gian, nơi thực dân Pháp đã từng giam cầm, đày ải những người Việt Nam yêu nước và đông đảo lực lượng cán bộ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Trước tình hình đó, tù nhân cộng sản nhận thức được rằng: Với lực lượng Đảng viên Cộng sản đông đảo như vậy, dù khó khăn đến mấy cũng phải gấp rút thành lập được chi bộ Nhà tù - hạt nhân lãnh đạo toàn diện đời sống tù nhân, quy tụ sức mạnh tập thể mới có thể đương đầu với bọn thực dân cai ngục. Tháng 12/1939, Chi bộ Nhà tù Sơn La được thành lập, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ lâm thời góp phần lãnh đạo anh em tù nhân đấu tranh, đòi được nhiều quyền lợi, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho tù nhân. Đặc biệt phải nói đến hoạt động của ban Kinh tế do đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Trưởng ban đã giành được quyền nấu ăn trên nhà bếp, khôn khéo nắm bắt kho thóc, cân đong khẩu phần để tiêu chuẩn của anh em không còn bị nhà thầu bớt xén như trước. Ngoài giờ lao động khổ sai, anh em tổ chức tăng gia sản xuất, trồng được nhiều rau xanh để nộp cho Thực dân Pháp, cải thiện bữa ăn cho tù nhân, có khi còn biếu bà con làm công tác dân vận. Bên cạnh đó, đồng chí còn lãnh đạo Ban Kinh tế tổ chức làm hàng thủ công mỹ nghệ như đan rổ, rá, làm guốc mộc,... khi có dịp đem bán ở phố chợ Chiềng Lề. Tiền có được chia theo tỉ lệ: 40% nộp quỹ sử dụng chung, 60 % người làm ra sản phẩm được hưởng. Chi bộ dùng quỹ chung phục vụ cho hoạt động chung trong tù như: mua được thuốc chữa bệnh, làm công tác dân vận... Năm 1942, Quỹ Kinh tế nhà tù lên tới 4.000 đồng tiền Đông Dương, cải thiện đáng kể đời sống vật chất cho anh em tù nhân. Trong quá trình hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La, một trong năm công tác lớn Nghị quyết đầu tiên của chi bộ đó là: ˝Tìm mọi cách Bắt liên lạc với Xứ ủy và Trung ương Đảng để xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên đối với chi bộ nhà tù Sơn La". Vì vậy, chi bộ đã quyết định tổ chức một cuộc vượt ngục mà các tù chính trị gọi là: “Cuộc vượt ngục thần thánh”, vô cùng gian khổ mà niềm tin của tù chính trị đã gửi gắm vào thử thách này.
Trước hết, chi bộ đã đề ra tiêu chí để lựa chọn, đó là đảng viên đã có kinh nghiệm lãnh đạo để có thể bắt nhịp ngay với phong trào, có đủ sức khỏe để đi bộ vượt ngục trong thời gian ngắn, khả năng ứng phó các tình huống bất ngờ dọc đường. Đầu tiên chi bộ chọn được 3 đồng chí, sau đó chi bộ chọn thêm đồng chí Nguyễn Lương Bằng, vì là đảng viên lão thành cách mạng, án tù chung thân, đã ở tù gần 10 năm, có uy tín với anh em. Mặc dù tuổi lớn, sức khỏe yếu nhưng đồng chí vẫn quyết tâm tham gia cùng với anh em, đồng chí nói “Vô luận như thế nào, các đồng chí không tổ chức vượt ngục thì thôi, đã tổ chức thì phải để tôi tham gia. Tất cả mọi khó khăn, nguy hiểm các đồng chí chịu đựng được, tôi cũng có thể chịu đựng được, cùng nữa phải hy sinh giữa đường cũng phải chịu”. Qua 3 vòng tuyển chọn, chi bộ nhất trí danh sách đoàn vượt ngục bao gồm 4 đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu và Trần Đăng Ninh.
Hơn nữa địa hình Sơn La rất phức tạp nên cuộc vượt ngục cần có người dân tộc Thái, biết thêm tiếng Mông càng tốt, khỏe mạnh, thạo địa hình, phải được tin tưởng tuyệt đối dẫn đường, đó chính là anh Lò Văn Giá. Anh Giá sinh năm 1919, quê ở bản Cọ, Mường La (nay là Thành phố Sơn La), đã có vợ và 2 con nhỏ, có cảm tình với cách mạng và đang hoạt động trong tổ thanh niên Thái cứu quốc. Nhiệm vụ này rất khó khăn và nguy hiểm nhưng trước sự quyết tâm của anh Giá, chi bộ đã nhất trí giao cho nhiệm vụ dẫn đoàn vượt ngục. Chi bộ đã chuẩn bị chu đáo những vật dụng cần thiết, mỗi người đều có tiền, 1 con dao rừng và thuốc men, quần áo Thái, muối, diêm để cải trang thành người dân tộc đi buôn. Đặc biệt, đoàn vượt ngục còn có một tấm bản đồ quân sự tỉ mỉ để nghiên cứu trước đường đi, mỗi người còn có một thẻ căn cước của Pháp mang tên khác, những thứ vô cùng quý giá này là do đồng chí Bế Nhật Huấn, người có cảm tình với cách mạng, thư ký tòa công sứ Pháp cung cấp. Đến giữa năm 1943, chưa mua được súng nên mọi người đề nghị tự chế súng và đạn, đặt thợ rèn làm cho hai khẩu súng tự tạo. Sau một tháng, 2 khẩu súng ngắn và 50 viên đạn đã hoàn thành.
.png)
Lệnh truy nã bốn tù nhân chính trị vượt ngục năm 1943
Sáng ngày 3/8/1943, đoàn tù vượt ngục đã được chi bộ bố trí trốn khi ra ngoài lao động khổ sai, rồi đến địa điểm hẹn với đồng chí Giá. Lịch trình đặt ra là 9 ngày đoàn phải về được Chợ Bờ- Hòa Bình. Nhờ sự dẫn đường của anh Lò Văn Giá, chiều tối cùng ngày tổ vượt ngục đã có mặt tại phố Tạ Chan bên bờ sông Đà. Nhưng khi đến đây, nước sông Đà dâng cao lại chảy xiết, anh em đã thay đổi kế hoạch, không vượt sông Đà nữa mà đổi hướng theo dọc sông Đà đi về quốc lộ 41 (nay là quốc lộ 6). Đêm đó các đồng chí phải ngủ trên một tảng đá lớn giữa dòng suối để tránh thú dữ. Quãng đường cắt ngang sang quốc lộ 41 rất khó khăn, đèo dốc cheo leo, leo lên đã nhọc nhằn, khi xuống bên kia dốc anh em phải nhoài từng bước một. Rồi đồng chí Nguyễn Lương Bằng bỗng trượt chân, trôi tuột, may thay đồng chí choài tay túm được bụi mua, đồng chí Trần Đăng Ninh nhanh tay túm được vạt áo đồng chí Bằng, anh em được phen hú vía.
Gần đến được đường 41, tránh sự để ý của phản động địa phương, đoàn vượt ngục quyết định chia làm 2 tốp hẹn gặp nhau tại đèo Pu Luông trước khi vào Mộc Châu. Tốp đầu có đồng chí Trân và đồng chí Hiểu thạo tiếng Thái, vẫn mặc quần áo Thái, đi trước cùng đồng chí Giá, tốp sau gồm đồng chí Bằng, sức khỏe không được tốt do bị ốm trước ngày vượt ngục nên có đồng chí Ninh trợ giúp, cả hai mặc quần áo người Kinh.
Khi tốp sau đi đến châu lỵ Yên Châu, lính canh thấy lạ mặt đã chặn lại khám xét, nhưng anh em trình được thẻ căn cước, trên danh nghĩa đi buôn trâu từ Yên Bái sang Mộc Châu và ứng phó linh hoạt nên không bị nghi ngờ. Đoàn vượt ngục khẩn trương tiếp tục lên đường. Lịch trình trải qua 9 ngày gian gian khổ và nguy hiểm, anh em đã vượt được suối Rút- Hòa Bình an toàn. Giờ phút chia tay đã đến, bùi ngùi, bịn rịn, 4 đồng chí giao số tiền, thuốc men còn lại cho anh Giá, đồng chí Bằng cầm tay anh Giá “Nhất định chúng ta sẽ được gặp lại nhau”. Chiều ngày 13/8/1943, đoàn vượt ngục đã về đến Hà Đông nhanh chóng bắt liên lạc với Thành ủy Hà Nội và cơ quan liên lạc Trung ương Đảng. Cuộc vượt ngục đã thành công là nhờ chi bộ Nhà tù Sơn La chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, 4 chiến sỹ cộng sản quyết tâm, gan dạ; anh Lò Văn Giá dẫn đường dũng cảm, mưu trí, xử lý các tình huống bình tĩnh, khéo léo theo đúng kế hoạch đặt ra. Có ý nghĩa cổ vũ tinh thần đấu tranh của tù nhân chính trị nhà tù Sơn La, củng cố niềm tin của anh em với sự lãnh đạo của chi bộ.
Với tinh thần kiên cường, bất khuất và niềm tin Cộng sản Chủ nghĩa, hai lần bị bắt, hai lần vượt ngục, đồng chí đều vượt qua được gian khổ, khó khăn nguy hiểm, thậm chí đe dọa tới tính mạng để trở về cùng với Đảng và nhân dân, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.
.jpg)
Hai người bạn tù Sơn La đồng chí Trường Chinh (phải), Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
thăm đồng chí Nguyễn Lương Bằng tại nhà riêng, Hà Nội, 1978
Trong gần 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đã được giao giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước ta: Bộ trưởng Bộ Tài chính, Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền đầu tiên của nước ta tại Liên Xô, Tổng Thanh tra của Chính phủ, Trưởng Ban Kiểm tra của Trung ương Đảng; là Ủy viên chính thức từ năm 1945 cho đến lúc mất; đồng chí giữ cương vị Phó Chủ tịch nước trong những năm 1969 - 1979. Với trọng trách của mình, đồng chí đã đóng góp vào công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước, luôn kiên quyết đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực, thoái hóa trong Đảng; giữ gìn, xây dựng và bảo vệ Đảng trong sạch, vững mạnh.
Để ghi nhận công lao to lớn đối với cách mạng, đồng chí Nguyễn Lương Bằng được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng. Một nhà tưởng niệm cũng được xây dựng tại quê hương Hải Dương.
(1).jpg)
Trưởng ban kiểm tra Trung ương Đảng Nguyễn Lương Bằng tiếp đồng chí Guxốp và đoàn đại biểu
Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, Hà Nội, 1976
.jpg)
Đại sứ Việt Nam đầu tiên tại Liên Xô Nguyễn Lương Bằng trình quốc thư lên đoàn chủ tịch
Xô Viết tốt cao liên Xô, Mát-x ơ-va, 1952
Cầm Thị May - Phòng Giáo dục Truyền thông