Nhà Lê Sơ là giai đoạn đầu của triều đại nhà Hậu Lê, một triều đại quân chủ chuyên chế trong lịch sử Việt Nam, được thành lập sau khi Lê Thái Tổ ( Lê Lợi) phát động khởi nghĩa Lam Sơn đánh bại quân đội nhà Minh.
Thời Lê Sơ trị vì đất nước trong 100 năm ( 1428-1527), trải qua 10 đời vua thuộc 6 thế hệ. Đây là thời kỳ vĩ đại, hoàng kim nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Sau khi Vua Lê Thái Tổ dẹp xong giặc Minh xâm lược, ông đã tiến hành các hoạt động nhằm khôi phục kinh tế và ổn định tình hình đất nước. Đặc biệt đến đời vua Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông là thời kì đất nước Đại Việt ta phát triển cực thịnh về mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội và quân sự.
Triều đại nhà Lê rất quan tâm và coi trọng vấn đề bảo vệ biên giới, phát triển lãnh thổ về phía Tây và phía Nam của Tổ quốc. Việc khẳng định và củng cố chủ quyền biên giới của phía Tây bắc của Tổ Quốc càng được triều đình nhà Lê đặc biệt quan tâm. Bởi Tây Bắc là vùng đất có địa hình hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhưng là nơi thổ phỉ thường xuyên nổi dậy chống phá , ảnh hưởng nghiêm trọng tới hòa bình đất nước và sự cai trị của triều đình phong kiến. Chính vì vậy song song với sự nghiệp dựng nước, các vị vua của triều đại nhà Lê còn đặc biệt quan tâm tới việc giữ nước.
Vua Lê Thái Tổ sinh ngày 6/8/1385 là vị vua đầu tiên của triều đại nhà Lê, là người có công lao to lớn trong công cuộc chống giặc Minh xâm lược, thành lập ra vương triều Nhà Lê. Trong 5 năm trị vì đất nước 1428- 1433 ông đã nhiều lần đem quân lên vùng Tây Bắc dẹp loạn. Riêng năm 1432 ông đã hai lần lên Tây bắc dẹp loạn Đèo Cát Hãn, buộc Đèo Hãn và con là Đèo Mạnh Vượng phải ra hàng.
Sau khi dẹp loạn vua cùng quân sỹ xuôi Sông Đà về kinh đô Thăng Long, trên đường về tới Mường Tấc (Phù Yên) và Mường Sang (Mộc Châu) nhà vua tiếp tục chiêu dân, tập hợp lực lượng và ban thưởng cho các tướng sỹ có công tập hợp dân binh vùng sông Đà.
Năm 1433 Vua Lê Lợi mất, thọ 49 tuổi, Thái tử Nguyên Long lên kế vị. Vua Lê Thái Tông sinh ngày 20/11/1423 lên ngôi năm 1433. Năm 1440 đổi niên hiệu Đại Bảo lấy niên hiệu " Quế lâm động chủ" nối tiếp hiệu " Lam Sơn Động Chủ" của vua cha.
Sử sách ghi lại rằng: Vua Lê Thái Tông là người khoan dung, hùng tài đại lược, cương đoán, sáng suốt việc triều chính, trọng dụng nhân tài, bên trong chỉ huy được quần thần, bên ngoài dẹp yên di địch, đất nước thái bình, thịnh trị.
Từ khi lên ngôi vua Lê Thái Tông rất chú ý đến miền Tây Bắc, miền đất phên dậu của Tổ Quốc. trong 9 năm trị vì đất nước vua Lê Thái Tông đã hai lần thân chinh chỉ huy quân sỹ dẹp loạn vùng Tây Bắc. Lần đầu vào tháng 3 năm 1440, ngài cùng quân sỹ lên trấn Miền Tây đánh thổ quân do tên Thượng Nghiễm cầm đầu theo ngoại bang, gây phản loạn ở châu Mường Muổi (nay là huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). Đi tới đâu cũng được nhân dân ủng hộ nên quân của triều đình đã nhanh chóng dẹp yên bọn phản loạn.
Trên đường về, vua Lê Thái Tông cùng quân sĩ nghỉ chân tại Động La (Hang Báo Ké). trước cảnh đẹp sơn thủy hữu tình cùng tâm trạng thanh thản, ngài đã cho khắc lên vách đá cửa động bài thơ với lời tựa gồm 14 dòng mỗi dòng 10 chữ Hán với nội dung:
"Quế lâm Ngự chế:
Tù Trưởng Thượng Nghiễm phản nghịch, vong ơn bội nghĩa, đem quân theo người Ai Lao làm phản. Thân chinh điều khiển sáu quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng, ta thương nó quỳ bò không mang vũ khí, không nỡ chém bèn tha tội cho nó rồi đem quân trở về để lại bài thơ rằng:
Nghĩ tới người xa đêm khổ tâm
Thổ tù sao lại dám quên thân
Thế gian đã có anh hùng chúa
Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần
Đường xá khó khăn đừng cậy hiểm
Hang cùng đã ấm áp hơi xuân
Yên được dân lành nhơ nhớp hết
Dân xa được hưởng tấm lòng nhân”.
.jpg)
Thượng Nghiễm được hưởng đức độ khoan hồng của nhà vua, nhưng không từ bỏ ý định làm phản, tòng quân Ai Lao, tiếp tục làm phản. Lần thứ hai đúng 1 năm sau vào tháng 3 năm 1441, một lần nữa vua đã kéo quân lên Tây Bắc dẹp loạn phản nghịch. Nhân dân hết lòng hưởng ứng, giúp đỡ, vì vậy quân của triều đình đã nhanh chóng bắt được tướng Ai Lao và vợ con hắn ở Động La, Thượng Nghiễm ra hàng và chịu tội, dải đất biên cương phía Tây của Tổ quốc được bình yên.
Văn bia "Quế Lâm Ngự Chế" khắc trên vách đá có chiều cao 0,8m, rộng 1,2m trải qua hơn 500 năm dãi dầu mưa nắng và biến thiên của lịch sử bài thơ vẫn còn rõ nét.
Di tích Văn bia “Quế Lâm Ngự Chế” có giá trị cao về lịch sử - văn hóa giúp chúng ta hiểu thêm về công lao, đức độ của vị vua trẻ hiền tài Lê Thái Tông cùng quân sỹ của ông, nhắc nhở những người con đất Việt về quá khứ vẻ vang của dân tộc và biết ơn những người đi trước làm nên sức sống cho một vùng đất biên cương.
.jpg)
Để ghi nhớ công đức của vua Lê Thái Tông và để di tích mãi mãi trang nghiêm, tỏa sáng trong lòng các thế hệ nối tiếp, đáp ứng một phần tín ngưỡng lành mạnh, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, ngôi đền được xây dựng năm 2001 và khánh thành vào năm 2003.
Lê Thị Liên – Phòng Giáo dục Truyền thông