Đường dây nóng: 0212.3850221

Lực lượng đảng viên trong thời kỳ cách mạng gian lao và kiên cường 1930 -1945

Cập nhật: 08:43:02 21 / 04 / 2020
Lượt xem: 5873

          Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua 90 năm xây dựng và trưởng thành đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thắng lợi mang dấu ấn lịch sử của đất nước, của nhân dân ta đã khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, uy tín của Đảng và khả năng lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và từng bước thực hiện thành công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

          Thời kỳ 1930 - 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam mang đậm nét bản lĩnh cách mạng kiên cường, sức sống mãnh liệt, tư duy lãnh đạo linh hoạt đã giải quyết được khủng hoảng đường lối lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từng bước trải qua các cuộc tập rượt, các cuộc trải nghiệm đã đập tan gông xiềng thực dân phong kiến, lãnh đạo nhân dân 15 năm đã giành chính quyền về tay cách mạng.

          Trước năm 1930, trên nền tảng của phong trào công nhân kết hợp với phong trào yêu nước cùng với sự nỗ lực không mệt mỏi của các nhà cách mạng ưu tú lần lượt ba tổ chức Cộng sản đã ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

          Đông Dương Cộng sản Đảng đã gây dựng được 22 chi bộ và tổ chức đảng tại 22 tỉnh thành phố ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, trong đó đã thành lập được các cơ quan lãnh đạo và các tỉnh ủy, thành ủy, liên tỉnh ủy: Hà Nội, Nam Định, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thừa Thiên và Quảng Nam. An Nam Cộng sản đảng xây dựng được mạng lưới tổ chức cơ sở ở 13 tỉnh, thành phố thuộc Nam Kỳ, trong đó đã thành lập được Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho và Đặc ủy Hậu Giang phụ trách các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Bạc Liêu. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn  có 10 cơ sở ở 10 tỉnh, thành phố Trung Kỳ và Nam Kỳ.

          Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức Cộng sản thể hiện sự phát triển của phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, nhưng các tổ chức xảy ra tình trạng bài xích lẫn nhau và tranh giành ảnh hưởng với quần chúng có thể tạo nên nguy cơ tan rã phong trào

          Nguyễn Ái Quốc nhận thấy sự hình thành về mặt tổ chức của các tổ chức Cộng sản tuy không thống nhất nhưng đây là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống tổ chức thống nhất Đảng Cộng sản Việt Nam, đây là một nhu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản đã triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị diễn ra từ ngày 06/01/1930 kết thúc trước ngày 08/2/1930 tại tại Hồng Kông (Trung Quốc)[1].

          Ngay sau Hội nghị hợp nhất tại Hồng Kông, đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết “Lời kêu gọi” in thành 10 000 bản, khẩn trương chuyển về nước thông báo sự thành lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi nhân dân đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Do đó, lực lượng đảng viên trong nước phát triển nhanh chóng.

Báo cáo ngày 18/02/1930 của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản, số lượng đảng viên của An Nam Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản đảng có tổng số 310 đảng viên[2], Trong đó:

          - Bắc Kỳ có 204 đảng viên chính thức và dự bị.

          - Nam Kỳ có 51 đảng viên chính thức và dự bị.

          - Trung kỳ đã ghép vào Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

          - Thái Lan có 40 đảng viên chính thức và dự bị.

          - Trung Quốc và các nơi khác có 15 đảng viên chính thức và dự bị.

Con số này chưa bao gồm đảng viên Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vì trong thời gian chờ Hội nghị đầu tiên của trung ương lâm thời, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đề nghị được gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam nên đến ngày 24/02/1930 dưới sự chủ trì của đồng chí Ngô Gia Tự - Bí thư Ban Lâm thời Chấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nam Kỳ tiến hành Hội nghị đột xuất và chấp nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Tháng 5/1930, công tác hợp nhất các tổ chức đảng trong nước hoàn tất. Hệ thống tổ chức đảng Cộng sản Việt Nam hình thành từ Trung ương đến cơ sở 38 tỉnh, thành phố trên cả nước. Đến thời điểm này, Đảng Cộng sản Việt Nam có 565 đảng viên, phân làm 40 chi bộ[3], trong đó:

          - Đông Dương Cộng sản Đảng có 85 đảng viên.

          - An Nam Cộng sản Đảng có 61 đảng viên; Tân Việt Cộng sản Liên đoàn có 119 đảng viên.

          - Phân bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương có 300 đảng viên (không tính 40 đảng viên hoạt động ở Thái Lan và 14 đảng viên hoạt động ở Hồng Kông).

          Theo chủ trương chuyển Trung ương lâm thời thành chính thức nhưng trong hoàn cảnh thực dân Pháp và tay sai truy lùng ráo riết, kế hoạch không thực hiện được, đặc biệt sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Quốc dân Đảng thực hiện và cuộc mít ting quy mô kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động, chính quyền thực dân tăng cường khủng bố lực lượng cách mạng nên việc thực hiện Hội nghị trong nước là vô cùng nguy hiểm. Trước tình hình đó, với sự nỗ lực của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương diễn ra từ ngày 12 đến ngày 27/10/1930 tại Hồng Kông đã nhất quán lại phương pháp thành lập Đảng, chỉnh đốn nội bộ, thay thế Điều lệ Đảng, căn cứ tình hình thực tế yêu cầu liên kết cách mạng Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên Hội nghị đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

          Sự phát triển của hệ thống tổ chức chặt chẽ nên các hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương hiệu quả rõ rệt, được Quốc tế Cộng sản XI công nhận là chi bộ độc lập trực thuộc Quốc tế Cộng sản[4]. Trong thời gian ngắn đã phát động phong trào đấu tranh rộng rãi đến quần chúng nhân dân, lực lượng đảng viên phát triển vượt bậc, tháng 9/1930 số lượng đảng viên chính thức và dự bị khoảng 800 - 900 người thì đến tháng 4/1931 số lượng đảng viên lên đến 2.400 người, chưa kể 200 đảng viên người Hoa thuộc nhóm Nam Kỳ - Cao Miên.

          Trước khí thế cách mạng trong nước lên cao, thực dân Pháp điên cuồng đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, tăng cường bắt bớ, giết hại các đồng chí Trung ương Đảng, xứ ủy, lùng sục các tổ chức cơ sở đảng khắp cả nước. Chỉ trong tháng 4 và tháng 5/1931cả 6 đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương do Hội nghị lần thứ nhất bầu ra đều bị bắt, bị giết hại[5], phần lớn cán bộ chủ chốt Xứ ủy, Thành ủy, bí thư tỉnh ủy và đảng viên ưu tú bị tù đày, thủ tiêu dã man. Thực dân Pháp mở rộng truy lùng cán bộ hoạt động trên toàn Đông Dương, ngày 06/6/1931 đồng chí Nguyễn Ái Quốc bị theo dõi sát sao và sa vào tay mật thám tại Cửu Long - Hồng Kông, ta mất liên lạc với Quốc tế Cộng sản Ban Chấp hành Trung ương tan vỡ, các tổ chức đảng bị phân tán, cách mạng bị dìm trong biển máu. Đến tháng 12/1934, chỉ còn 600 đảng viên[6], trong đó:

          - Bắc Trung Kỳ có 112 đảng viên ở Nghệ An  và 82 đảng viên ở Hà Tĩnh.

          - Nam Trung Kỳ có 30 đảng viên hoạt động từ Quảng Nam đến Phan Thiết.

          - Bắc Kỳ có 201 đảng viên ở Cao Bằng và 25 đảng viên ở Lạng Sơn.

          - Ở Nam Kỳ  có 95 đảng viên.

          - Lào có 18 đảng viên và ở Cao Miên có 5 đảng viên.

          Đảng Cộng sản Đông Dương bước vào giai đoạn khôi phục hệ thống tổ chức, gây dựng lại cơ quan lãnh đạo Trung ương, tái lập các Xứ ủy. Cùng với sự quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ tài chính của Quốc tế Cộng sản (mỗi năm Quốc tế Cộng sản cung cấp cho Đảng Cộng sản Đông Dương 2.000 đô la[7]) và những chuyển biến mới của tình hình cách mạng thế giới và Đông Dương tác động có lợi cho cách mạng Việt Nam. Tháng 7/1934, Mặt trận nhân dân Pháp hình thành và liên tiếp giành được thắng lợi buộc Chính phủ Pháp phải nới lỏng quyền tự do, dân chủ ở Đông Dương. Năm 1936 - 1937, chính quyền thuộc địa Pháp phải trả tự do cho 1.532 tù chính trị, phần lớn là những chiến sỹ Cộng sản trong đó có nhiều cán bộ chủ chốt của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là lực lượng lòng cốt được tôi luyện trong “trường học cách mạng”. “Việc tổ chức lại các tổ chức của Đảng có thể tiến hành khá nhanh, đó là nhờ hoạt động của các cựu tù chính trị được ân xá sau thắng lợi của mặt trận bình dân ở Pháp”[8].

          Tháng 9/1937, hơn 300 đảng viên được bổ sung vào tổ chức. Công tác “thanh Đảng” được tiến hành triệt để, loại bỏ những phần tử khả nghi, thận trọng hơn trong công tác kết nạp Đảng, lựa chọn những đồng chí “chắc chắn và tận tâm”.  Đến tháng 4/1938, có tổng số 1.717 đảng viên (trong đó 1.597 đảng viên hoạt động bí mật - nhằm đánh lạc hướng chính quyền thực dân và rút kinh nghiệm sau những đợt khủng bố trắng của Thực dân Pháp). Trước khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, cơ quan lãnh đạo trung ương, Xứ ủy được khôi phục, hệ thống tổ chức Đảng được xây dựng ở 52/69 tỉnh thành với tổng số 2.092 đảng viên, trong đó:

          - Nam Kỳ có 1.116 đảng viên.

          - Trung Kỳ có 665 đảng viên.

          - Bắc Kỳ có 252 đảng viên

          - Cao Miên có 7 đảng viên.

          - Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương có 52 đảng viên.

          Sau khi chiến tranh Thế giới lần thứ hai nổ ra, chính phủ Pháp ra sắc lệnh giải tán Đảng Cộng sản Pháp và ban hành sắc lệnh trên toàn Đông Dương thực hiện quản thúc hay trục xuất nơi cư trú hoặc giam giữ tập trung  những người mà chúng cho rằng “nguy hiểm cho an ninh và quốc phòng”. Chính quyền tay sai dốc hết lực lượng thực hiện trấn áp các hoạt động yêu nước, tăng cường các biện pháp khủng bố chủ yếu nhằm vào các tổ chức Cộng sản nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Ai Lao, nhận thấy cách mạng nhân dân ngày càng rộng khắp, thực dân Pháp khủng bố Xứ ủy, bắt bớ cán bộ bản địa, trục xuất người Việt Nam hoặc đưa về giam cầm trong nước cùng với việc Xứ ủy Xiêm bị chia rẽ nội bộ và bị gián đoạn nên cách mạng Đông Dương rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Chỉ trong tháng 9/1939, tại Bắc Kỳ Việt Nam chính quyền thuộc địa đã thực hiện 1.051 vụ khám xét và bắt bớ và trên cả nước có 2000 cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng bị tù đày.

          Hệ thống nhà tù của thực dân Pháp gia tăng đột biến, ngoài hệ thống những nhà tù chính trị đã có từ trước nổi tiếng là những địa ngục trần gian như: Khám lớn Sài Gòn, nhà tù Côn Đảo, nhà lao Thừa Phủ, nhà tù Hỏa Lò, ngục Sơn La … không còn đủ để giam giữ tù nhân chính trị, chúng còn lập ra một loạt trại an trí (căng đặc biệt): Bắc Mê, Chợ Chu, Phú Thọ, Ba Tơ, Phú Bài, Bà Rá…Chưa bao giờ các loại nhà tù, trại giam trên đất nước ta với số lượng lớn đến thế.

          “Sau cuộc khủng bố 1939-1940, Đảng ta tổn hao rất nhiều cán bộ… manh mối Đảng hay bị đứt và công tác đảng hay bị đình đốn”[9]. Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản Đông Dương không còn nhận được sự giúp đỡ thường xuyên của Quốc tế Cộng sản do trong điều kiện chiến tranh, công tác liên lạc và tài chính vô cùng khó khăn. Trước tình hình đó, ngày 28/01/1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

          Nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho Đảng ta đó là củng cố và tái lập các Xứ ủy, tăng cường các biện pháp bảo vệ Trung ương Đảng, chống khủng bố các cơ sở Đảng. Đặc biệt rút kinh nghiệm từ những cuộc khủng bố trắng của thực dân Pháp là do có phần tử phản động trong đảng cài sâu trong tổ chức nên trung ương đảng đề cao cảnh giác và thanh lọc kịp thời các đối tưởng thiếu độ tin cậy. Một mặt, từ cuộc vượt ngục “thần thánh” của bốn tù chính trị nhà tù Sơn La năm 1943 thành công trở về với cách mạng, đã mở ra cho Đảng một chủ trương lớn lấy nguồn cán bộ từ trong các nhà tù đế quốc để lãnh đạo phong trào quần chúng. Vì vậy, Trung ương đảng lập tức thiết lập các đường dây liên lạc đến chi bộ các nhà tù triển khai kế hoạch vượt ngục cho đảng viên. Từ tháng 8/1943 đến tháng 10/1944, gần 40 đồng chí cốt cán thoát ngục bổ sung lực lượng cho trung ương và các xứ ủy. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, tranh thủ thời cơ khoảng 800 cán bộ, đảng viên từ nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Buôn Ma Thuột, … thoát ngục tham gia lãnh đạo phong trào. Thực dân Pháp tăng cường các biện pháp khủng bố gắt gao nhưng do Trung ương đảng đã sớm thực hiện chủ trương thanh lọc nội bộ, địch mất nhiều đầu mối mật thám trong tổ chức đảng, cùng với việc ta đã xây dựng được nhiều khu căn cứ địa vững chắc nên bảo toàn tương đối lực lượng cách mạng.

          Ngày 9/3/1945, tình hình cách mạng trong nước và quốc tế chuyển biến có lợi cho cách mạng Việt Nam, Ban thường vụ trung ương đảng khẩn trương tiến hành Hội nghị, quyết định ban hành chỉ thị mang tính lịch sử “ Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Phong trào kháng Nhật cứu nước từ đó phát triển mạnh mẽ từ Bắc vào Nam.

          Để kịp thời đáp ứng yêu cầu của phong trào quần chúng đang lên cao, Trung ương đảng đẩy mạng công tác phát triển đảng viên, đến tháng 8.1954, có tổng số 1.302 đảng viên, trong đó:

          - Nam Kỳ có 700 đảng viên.

          - Trung kỳ có 181 đảng viên

          - Bắc kỳ có 390 đảng viên

          - Lào và Thái Lan có 31 đảng viên.

          Theo báo cáo Tổng quát tình hình Đảng từ trước ngày khởi nghĩa đến nay (26/11/1949) thời điểm tổng khởi nghĩa, Đảng Cộng sản Đông Dương có 3.000 đảng viên.

          Cùng với sự lãnh đạo sáng tạo, thực hiện tốt các phương án xây dựng an toàn khu trong dân ngay liền kề sào huyệt của địch đã bảo toàn được lực lượng lãnh đạo cách mạng, kiện toàn bộ máy Xứ ủy, thành ủy, Tỉnh ủy hoạt động thông suốt từ Bắc vào Nam. Mỗi bước đi của Đảng, mỗi thành công của công cuộc đấu tranh trong giai đoạn gian lao, kiên cường 1930 - 1945 đều mang dấu ấn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cách mạng Việt Nam lớn mạnh không ngừng, đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo nhân dân thực hiện cách mạng Tháng Tám thành công và đảm bảo đủ năng lực lãnh đạo đất nước sau khi giành độc lập và tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng Xã hội chủ nghĩa đi đến bến bờ thành công[10].


Đại biểu tham dự Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trung Quốc, 1930.

 


Đội tự vệ đỏ. Đông Sớ, Nghệ An, 1931

 


Truyền đơn của Việt Minh. 1945.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Hà Nội, 1945.

 


[1] ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ III năm 1960  quyết nghị lấy ngày 03/02 hàng năm là ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

[2] Văn kiện Đảng toàn tập.

[3] Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương – Hồng Thế Công (Hà Huy Tập), 1933

[4] Văn kiện đảng toàn tập

[5] BCH Trung ương Đảng Hội nghị lần thứ nhất: Trần Phú – Tổng Bí thư, Nguyễn Trọng Nhã, Ngô Đức Trì, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Trần Văn Lan.

[6] Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, 1999.

[7] Xây dựng cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương, Xứ ủy của Đảng 1930 – 1945, Trần Trọng Thơ,

[8] Trích báo cáo của Hội nghị toàn thể Đảng Cộng sản Đông Dương gửi Quốc tế Cộng sản ngày 10/9/1937- Văn kiện Đảng toàn tập.

[9] Trích Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BCH TW Đảng, 5/1941

[10] Tài liệu tham khảo chính: :Xây dựng cơ quan lãnh đạo cấp trung ương, Xứ ủy của Đảng thời kỳ 1930 – 1945, NXB Chính trị Quốc gia của Ts Trần Trọng Thơ.

Nguyễn Thị Ngọc Tú – Bảo tàng tỉnh Sơn La

 


Các tin khác:

Thống Báo

Liên Kết Website

Video - Sự Kiện

Không có video - Upload lại link

Thống Kê

Hôm nay : 133
Hôm qua : 511
Tháng này : 5322
Tổng truy cập : 4621526
Đang trực tuyến : 6