Sơn La là tỉnh miền núi phía Tây Bắc tổ quốc, có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh, quốc phòng, kinh tế trong cả nước. Vì vậy, Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị của chúng tại vùng Tây Bắc. Đồng thời với việc xây dựng các công trình như tòa sứ, nhà giám binh, trại lính, công sở, năm 1908 thực dân Pháp đã xây dựng Nhà tù Sơn La để giam cầm, đày ải, thủ tiêu ý chí đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước. Chúng ra sức củng cố bộ máy cai trị phản động địa phương, thực hiện các chính sách ngu dân, khuyến khích các phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan để chúng dễ bề cai trị. Vì thế, nền kinh tế trì trệ, lạc hậu, đời sống của nhân dân tối tăm, khổ cực, với 99% nhân dân mù chữ.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn lợi dụng triệt để khí hậu khắc nghiệt nơi rừng thiêng nước độc, dịch bệnh hoành hành, kết hợp với chế độ tù đày hà khắc để làm suy kiệt, giết dần, giết mòn sinh lực và ý chí, tinh thần của tù nhân. Nhưng tất cả những âm mưu thâm độc, sự tàn khốc của thực dân Pháp đã bị thất bại. Những chiến sỹ cách mạng Việt Nam đã biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, nơi đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho Đảng. Tháng 12/1939, Chi bộ lâm thời Nhà tù Sơn La ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh chính trị tại Sơn La. Tháng 5/1940 chi bộ triệu tập đại hội, đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Bí thư, chi bộ đề ra 5 nhiệm vụ công tác cơ bản, trong đó nhiệm vụ quan trọng là tập trung xây dựng và phát triển các tổ chức quần chúng cách mạng bên trong và bên ngoài nhà tù.
Để làm tốt công tác dân vận, Chi bộ nhà ngục đã chỉ đạo thành lập các tổ: Tổ vận động công nhân viên chức; tổ vận động thanh niên, học sinh; tổ vận động người Kinh ở phố Chiềng Lề; tổ vận động người Thái ở trong bản. Để triển khai tốt nghị quyết của Chi bộ, các tù nhân chính trị đều phải học tiếng Thái để thuận lợi trong việc tuyên truyền cách mạng cho đồng bào các dân tộc. Nội dung tuyên truyền là vạch trần tội ác dã man, sự áp bức bóc lột của phát xít Nhật và thực dân Pháp. Sau một thời gian làm công tác tuyên truyền, giác ngộ, thử thách, Chi bộ đã vận động được cả công chức, binh lính, nhân dân địa phương. Từ đó, Chi bộ đã xây dựng và mở rộng cơ sở cách mạng.
Đầu năm 1943, Chi bộ Nhà tù Sơn La bí mật thành lập tổ chức cách mạng đầu tiên ở Sơn La – đó là hai tổ Thanh niên cứu quốc (tiếng Thái gọi là “Mú nóm chất mương”) tại tỉnh lỵ và châu Mường La.
Tổ thanh niên cứu quốc ở tỉnh lỵ gồm có: Chu Văn Thịnh, Tòng Lanh, Nguyễn Phúc, Quàng Đôn do Chu Văn Thịnh phụ trách.
Tổ thanh niên cứu quốc Mường La gồm có: Cầm Văn Thinh, Lò Văn Giá, Lò Văn Phui, Lô Xuân, do Cầm Văn Thinh phụ trách.
Hoạt động dựa trên cơ sở bản Điều lệ Đoàn thanh niên cứu quốc Việt Nam, một tổ chức của Mặt trận Việt Minh, với nhiệm vụ cấp bách :
Một là: Đánh đuổi giặc Tây ra khỏi đất nước Việt Nam.
Hai là: Lật đổ bọn vua quan, tạo phìa, thành lập chính quyền nhân dân.
Ba là: Tuyên truyền, giải thích để dân hiểu rõ mục đích của Việt Minh là đoàn kết tất cả các dân tộc Kinh, Thái, Tày, Mèo, Mán, Xá để đánh đuổi giặc Pháp, Nhật, giành lại độc lập dân tộc.
Để tiếp tục xây dựng và mở rộng cơ sở cách mạng ở địa phương, Chi ủy đã phân công các đồng chí Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu, Mai Đắc Bân và trực tiếp là đồng chí Trần Quốc Hoàn phụ trách việc liên lạc và chỉ đạo các hoạt động của hai tổ thanh niên cứu quốc.
Ngay từ khi mới ra đời tổ Thanh niên cứu quốc đã bắt tay vào tổ chức, tuyên truyền vận động đồng bào ở một số bản của xã Chiềng Xôm (Mường La) đấu tranh. Ruộng đất ở Chiềng Xôm cũng như ở các địa phương khác trong tỉnh bị bọn phìa tạo và chức dịch chiếm hết. Bản Cọ có ba nghìn đin ruộng, nhưng đã bị các quan tuần phủ chiếm hết hai ngàn hai trăm đin nên không đủ chia cho dân, trong đó mười tám nhà không có ruộng, các khoản cống nạp ngày càng tăng, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, điêu đứng. Dưới sự hướng dẫn của Tổ thanh niên cứu quốc Mương La, nhiều cuộc họp quần chúng đã diễn ra ở bản Tông, bản Hụm, bản Phiêng Ngùa,…bắt đầu phát đơn tố giác sự tham nhũng của phìa tạo và các chức dịch ở địa phương, đòi chúng phải giảm thuế và bớt ruộng chức, chia lại ruộng cho dân cày, giảm các loại phụ thu lạm bổ khác,... Đây chính là cuộc tập dượt đầu tiên của tổ chức Mú nóm Chất Mương, một tổ chức cách mạng còn non trẻ trong quá trình lãnh, chỉ đạo phong trào cách mạng địa phương đồng thời thể hiện tinh thần sẵn sàng đứng dậy đi theo Đảng làm cách mạng .
Sau cuộc vượt ngục thành công của 4 tù nhân chính trị ở nhà tù Sơn La (tháng 8 – 1943), thực dân Pháp tiến hành khủng bố và kiểm soát gắt gao hành động của tù chính trị. Để tránh tổn thất cho phong trào cách mạng đang dâng cao ở tỉnh lỵ và Mường La, Chi ủy nhà ngục chủ trương tạm dừng liên lạc với các cơ sở cách mạng bên ngoài và chỉ đạo chuyển địa bàn hoạt động về Mường Chanh, xây dựng căn cứ địa để chuẩn bị lực lượng giành chính quyền khi thời cơ đến.
Thực hiện chỉ thị của chi bộ, Chu Văn Thịnh trực tiếp vào Mường Chanh gây cơ sở, anh là người trực tiếp duy nhất liên hệ và nhận chủ trương chỉ đạo của chi bộ nhà ngục để chỉ đạo phong trào cách mạng ở địa phương, trở thành người cán bộ đầu tiên thoát ly để hoạt động cách mạng ở Sơn La. Với kinh nghiệm hoạt động ở Mường La và tỉnh lỵ, chỉ sau một thời gian tuyên truyền vận động, cuối năm 1943 ở Mường Chanh đã thành lập được Tổ thanh niên cứu quốc gồm 12 hội viên và nhiều quần chúng cảm tình. Tổ thanh niên cứu quốc Mường Chanh ra đời đã phát huy tốt ảnh hưởng của mình trong quần chúng nhân dân. Tổ thanh niên cứu quốc đã có những hình thức nửa công khai, nửa bí mật để giác ngộ quần chúng, phát triển hội viên mới, đã phát huy tích cực và hướng dẫn các “Hội dệt anh” (Hội kết nghĩa anh em) vào mục tiêu đoàn kết chống lại bộ máy phìa tạo đang cai trị, chống nộp thuế, bắt phu, bắt lính, lợi dụng quyền thế để ức hiếp, cướp đoạt của dân. Nhiều hội viên hội “Kết nghĩa anh em” được tuyên truyền giác ngộ, tình nguyện tham gia vào tổ chức Thanh niên cứu quốc và hoạt động rất tích cực.
Bước sang năm 1944, phong trào cách mạng ở Sơn La có bước phát triển mạnh, đồng chí Chu Văn Thịnh sau khi được bồi dưỡng, huấn luyện ở vùng Tía (Hà Đông) được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương và trở về địa phương hoạt động. Tại Mường Chanh, hoạt động của Tổ thanh niên cứu quốc đã có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân, kết nạp được 40 hội viên cứu quốc. Hội đã tuyên truyền cho nhân dân Mường Chanh hiểu rõ nguồn gốc của sự đói nghèo và cuộc đấu tranh giải phóng mọi áp bức, nô lệ, giành quyền làm chủ bản mường, giành ấm no hạnh phúc cho mỗi người dân. Vụ thuế 1944, Hội đã tổ chức vận động nhân dân đấu tranh với phìa Mường Chanh giành lại 14 con trâu, 50 con lợn, 10 tấn lúa đem chia một phần cho dân, còn lại làm quỹ của Hội. Thắng lợi của cuộc đấu tranh càng cổ vũ quần chúng tin tưởng vào Hội thanh niên cứu quốc. Để đảm bảo an toàn cho các cuộc đấu tranh, trừng trị bọn tay chân, mật thám chuyên dò la tin tức, chuẩn bị lực lượng vũ trang nòng cốt, Hội thanh niên cứu quốc đã tổ chức đội tự vệ bí mật do Cầm Vĩnh Tri chỉ huy.
Tháng 4/1945, đồng chí Lê Trung Toản được đồng chí Trần Quốc Hoàn- Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ điều quay trở lại Sơn La để cùng các đồng chí cán bộ cốt cán ở địa phương củng cố, phát triển phong trào, tham gia lãnh đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tới Sơn La, lúc đầu đồng chí được bố trí ở Bản Thé (xã Chiềng Xôm, châu Mường La), sau khi có liên lạc, thống nhất giữa Mường La và Mường Chanh, dưới sự bố trí của Chu Văn Thịnh, thông qua Cầm Minh, đồng chí Lê Trung Toản được bố trí về Mường Chanh cùng cán bộ địa phương trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh.
Sau một thời gian, phong trào cách mạng ở Sơn La đã phát triển nhanh chóng, toàn tỉnh có trên 60 cơ sở cách mạng ở các châu, riêng ở Mường Chanh cả 8 bản đều có cơ sở cách mạng, trên cơ sở đội tự vệ bí mật trước đây, Ban lãnh đạo khu căn cứ quyết định thành lập trung đội du kích vũ trang Mường Chanh do đồng chí Lê Trung Toản và Cầm Vĩnh Tri trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy. Để tập hợp mọi lực lượng, lứa tuổi tham gia phong trào cách mạng trên cơ sở phong trào cách mạng lan rộng, Ban lãnh đạo khu căn cứ thành lập hội "Người Thái cứu quốc " (Côn tay chất mương) do Chu Văn Thịnh và một số cán bộ quần chúng trung kiên phụ trách. Nòng cốt của hội là các tổ thanh niên cứu quốc.
Để tuyên truyền giáo dục và vận động quần chúng nhân dân tham gia phong trào kháng Nhật cứu nước, ngoài các hình thức tuyên truyền như : viết khẩu hiệu trên hang, vách đá, sáng tác bài thơ,… Hội còn ra được tờ báo Lắc Mương (Trụ cột đất nước) do đồng chí Lê Trung Toản và Cầm Minh chỉ đạo kiêm chủ bút.

Tờ báo "Lắc Mướng" – Cơ quan tuyên truyền của Hội Người Thái cứu quốc (Ảnh: BTSL)
Báo được viết tay bằng cả chữ Thái và Quốc ngữ. Mỗi số báo ra được khoảng chục tờ. Báo Lắc Mương đã vạch rõ tội ác của giặc Nhật, kêu gọi nhân dân các dân tộc đoàn kết đứng dậy tập hợp dưới lá cờ Việt Minh để kháng Nhật cứu nước. Ngoài ra Hội còn tích cực hoạt động gây quỹ để lấy tiền mua vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang.
Cùng với sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương đảng, những người dân yêu nước Sơn La đã vũ trang, vùng lên giành chính quyền trong toàn tỉnh và ngày 23/8/1945 quân ta tiến công bao vây đồi Khau Cả - trung tâm đầu não của chính quyền thực dân Pháp trước đây, hiện đang có một đại đội quân Nhật và một đại đội lính bảo an vẫn chiếm đóng buộc chúng đầu hàng, ngày 26/8 ta giành chính quyền về tay nhân dân.
Nhờ có chủ trương đúng đắn, kịp thời của Chi bộ nhà tù Sơn La, sau một thời gian ngắn các tổ chức cách mạng đã được củng cố và phát triển rộng rãi ở nhiều vùng Sơn La. Nếu năm 1943 mới chỉ có hai tổ chức Thanh niên Thái cứu quốc tại Tỉnh lỵ và Mường La, đến cuối năm 1944 đầu năm 1945 đã phát triển thành 60 cơ sở cách mạng trong toàn tỉnh.

Đây là những hạt giống đỏ đầu tiên đã gieo mầm cách mạng rộng khắp trên địa bàn tỉnh Sơn La. Nhân dân các dân tộc Sơn La rất tự hào có những người con ưu tú của bản mường đã dũng cảm chiến đấu, mưu trí đóng góp sức mình vào thành công của Đảng.
Cầm Thị May – Bảo tàng tỉnh Sơn La