Người La Ha là cư dân bản địa lâu đời ở vùng Tây Bắc Việt Nam, tại Sơn La, họ chủ yếu sinh sống tại các huyện Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai. Họ tự gọi mình là La Hả và chia thành hai nhóm: La Ha Ủng (làm ruộng nước) và La Ha Khlá (làm nương rẫy). Dù có sự giao thoa văn hóa với người Thái, người La Ha vẫn giữ được bản sắc riêng, nhất là trong tín ngưỡng và nghi lễ truyền thống.
Người La Ha tin vào “vạn vật hữu linh”, cho rằng thế giới con người luôn gắn bó chặt chẽ với các thế lực siêu nhiên. Tín ngưỡng ấy thể hiện rõ qua nhiều lễ nghi, kiêng kỵ, đặc biệt là nghi lễ Xên hươn (cúng ma nhà) - nét văn hóa tâm linh đặc sắc có ý nghĩa tri ân tổ tiên, cầu an cho gia đình, đồng thời phản ánh niềm tin vào linh hồn tồn tại sau cái chết và mối liên hệ giữa con người với thần linh.
Xên hươn thường được tổ chức sau vụ mùa, khi công việc đồng áng đã hoàn tất. Thời gian và ngày tổ chức do gia chủ chọn, thường rơi vào ngày lành tháng tốt, kéo dài từ sáng đến chiều trong một ngày, nhưng nếu chủ lễ là người lớn tuổi (trên 50 tuổi) thì có thể kéo dài hơn. Nghi lễ diễn ra tại nhà sàn của chủ lễ, không gian sinh hoạt đồng thời là nơi linh thiêng kết nối tổ tiên, thể hiện rõ nét giá trị văn hóa, tín ngưỡng và sự gắn kết cộng đồng của người La Ha.
Thành phần tham gia
Nghi lễ có sự tham gia đông đủ của các thành viên trong gia đình, họ hàng gần xa, cộng đồng dân cư trong bản. Hai nhân vật đóng vai trò trung tâm là thầy cúng (người thực hiện các nghi lễ tâm linh) và người thổi sáo (người hỗ trợ truyền cảm hứng tâm linh qua âm nhạc dân gian trong các đoạn hành lễ). Người được lựa chọn làm chủ lễ thường là người đàn ông lớn tuổi trong dòng họ, có đạo đức, uy tín và hiểu biết về phong tục truyền thống.
Trình tự nghi lễ
1. Lễ báo cáo tổ tiên (Mọp Đắm)
Mở đầu nghi lễ là phần cúng báo cáo với tổ tiên, được xem như lời trình lễ chính thức, xin phép tổ tiên về việc tổ chức Xên hươn. Người được chọn cúng báo thường là ông bác hoặc ông cậu bên ngoại (lung tà).
Lễ vật bao gồm: một con lợn sống, một con gà sống, rượu, vải trắng, dây giang nạng (vật tượng trưng cho tiền âm phủ). Đây là bước thể hiện sự tôn kính đối với thế giới tâm linh, là tiền đề để mời tổ tiên và thần linh về chứng giám nghi lễ Xên hươn.
2. Lễ mời tổ tiên về hưởng lễ
Sau phần báo tổ tiên, lợn và gà được mổ, chế biến thành các món truyền thống. Các mâm cúng được sắp đặt một cách trang trọng: Mâm thứ nhất đặt tại bàn thờ tổ tiên (trong nhà) gồm tiết canh, thịt, xôi, măng, rượu, vải trắng...; Mâm thứ hai đặt tại cửa sổ hướng về bên ngoại gồm gà nguyên con, phủ nội tạng, tiết trên lưng, rượu, vải trắng… Thầy cúng mời tổ tiên về dự lễ, báo cáo kết quả sản xuất, sinh hoạt trong năm, đồng thời bày tỏ nguyện vọng được tổ tiên phù hộ trong năm tới. Sau phần khấn, người tham dự cùng nhau uống rượu cần, mỗi người một sừng rượu như một cách chia sẻ niềm vui với tổ tiên và cộng đồng.
.jpg)
Thầy cúng mời ma nhà về dự Nghi lễ Xên hươn
3. Lễ xin mở cửa trời (Au Tô Đáp)
Đây là nghi lễ đặc biệt mang tính siêu hình cao, nhằm cầu xin sự đồng thuận của thần linh, cho phép gia chủ tổ chức lễ cúng thành công.
Lễ vật gồm một con gà sống mổ nguyên, đặt trên mẹt cùng rượu cần, vải trắng, dây giang nạng. Thầy cúng vừa khấn vừa cầm quạt che mặt, thầy pí thổi sáo theo tiết tấu hành lễ. Khi thầy cúng ngáp ngủ là tín hiệu “thoát xác”, lên trời gặp các vị thần. Sau đó, thầy tiến hành làm quẻ bằng gạo để đoán định thần linh đã chấp thuận hay chưa (số hạt chẵn là chấp thuận; lẻ là chưa hài lòng, phải làm lại). Nghi lễ phản ánh niềm tin vào sự tồn tại của thế giới siêu nhiên, nơi con người có thể giao tiếp với thần linh thông qua người trung gian là thầy cúng.
4. Lễ giải hạn (Khớ Khan)
Nghi lễ giải hạn nhằm hóa giải những điều xấu, tai ương, bệnh tật trong năm cũ, chuẩn bị cho một năm mới suôn sẻ.
Lễ vật gồm mô hình bè bằng bẹ chuối, hai đầu cắm cờ, đặt hình nhân bằng đất sét nằm giữa bè, cùng các vật như cá sông khô, ớt, gà sống, vải trắng... Thực hiện lễ giải hạn, thầy cúng khấn xin trút bỏ xui xẻo vào hình nhân, sau đó hai người không sống cùng gia đình chủ lễ đem bè ra sông thả thể hiện việc đẩy lùi mọi rủi ro, tái thiết trạng thái cân bằng giữa con người và các thế lực siêu nhiên.
5. Lễ cúng ma chết đột ngột (Khôn Phơn Sau)
Lễ nhằm tránh tai ương bất ngờ, cầu cho gia chủ sống thọ, tránh chết bất đắc kỳ tử.
Lễ vật gồm lợn sống phủ lá chuối, nội tạng nhét vào bụng, dây giang nạng buộc sợi chỉ trắng nối từ lợn lên trần nhà. Thầy cúng thắp nến sáp ong, che mặt bằng quạt, khấn mời ma chết đột ngột ăn lễ vật, không bắt người sống. Sau đó, thầy đốt sợi chỉ bằng ngọn nến gắn vào dao nhọn, chỉ cháy hết mới là điềm lành, nếu lửa tắt phải khấn lại. Lễ kết thúc bằng việc uống rượu cần như nghi thức kết nối thần linh và con người.
.jpg)
Thầy cúng đốt sợi chỉ đuổi ma chết đột ngột (khôn phơn sau)
6. Lễ đưa linh hồn về trần gian
Sau những nghi lễ đi sâu vào cõi âm, người La Ha làm lễ gọi hồn người sống trở về với trần thế.
Lễ vật có gà luộc, rượu nếp, vải trắng, dây giang nạng, vòng bạc, trầu cau, trứng sống, mô hình lá chuối gói rượu, đũa (không dùng thìa). Nến sáp ong tượng trưng cho số người trong nhà, nến cháy hết nghĩa là hồn đã về, nếu không, thầy cúng phải mời “ông Phia Khoảng” - vị thần tối cao có vai trò phán xử, giúp đưa hồn người trở lại. Sau lễ, mọi người cùng uống rượu cần, một sừng mỗi người.
7. Lễ cầu sống lâu (Mâm Bẩu / Sơn Mán Sơn Rưn)
Lễ cầu sống lâu thể hiện lời nguyện cầu cho chủ lễ và gia đình sống lâu, khỏe mạnh, đủ đầy.
Lễ vật gồm thịt lợn luộc, quần áo vợ chồng chủ lễ (không dùng đến khi còn sống), cá sông khô, gà hấp, cá hấp, xôi, mía, khoai, chuối luộc, mô hình nhà sàn, nông cụ thu nhỏ như phai, gánh nước, giỏ cuốc đất...; hình các con vật như trâu (tu mà nạ), bò (tu nơi), gà (tu cởi) nặn đất đặt dưới mô hình nhà sàn, tượng trưng cho sự ấm no, sinh sôi. Thầy cúng rải gạo vào quạt, đếm đến số chẵn thì khấn bằng tiếng pí, thổi sáo gọi thần linh. Ông mời các vị thần hiền lành, nhân đức về phù hộ người sống có đạo lý, thịnh vượng, hướng thiện. Mời cả vị thần nông, người mang mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.
8. Lễ tung áo
Là nghi lễ cuối cùng mang tính quyết định, nhằm xác tín lần cuối rằng linh hồn các thành viên trong gia đình đã trở về trần gian. Mỗi người trong gia đình từ trẻ thơ đến cụ già chuẩn bị một chiếc áo thường mặc có cổ (người La Ha quan niệm cổ là nơi linh hồn trú ngụ). Áo được lồng vào nhau theo thứ tự vai vế: từ người cao tuổi đến nhỏ tuổi, không cài cúc tượng trưng cho sự luân chuyển linh hồn.
Thầy cúng tay cầm dao nhọn và quạt khấn gọi các hồn vía: hồn đầu (xám bon), hồn tay (xám ma), hồn chân (xám cốk), hồn miệng, mắt, tai… mời về trú ngụ trong từng chiếc áo. Sau khấn lễ, thầy cúng lần lượt tung từng chiếc áo, từ trong ra ngoài (từ trẻ đến già) về phía một người đàn ông trong gia đình ngồi đối diện (thường là ông Lung tà). Nếu áo rơi đúng mặt trước tức là linh hồn đã về; nếu rơi ngược hoặc rơi khỏi tay là linh hồn chưa về, cần làm lễ gọi hồn riêng (khe khoăn).
Khi lễ tung áo hoàn tất, gia đình chủ lễ dâng mâm cơm và chum rượu cần mời thầy cúng và thầy pí vừa là lễ tiễn, vừa là cách “ban lộc” cho người dự. Ai được chia phần đều phải ăn để nhận may mắn, sức khỏe, sự bảo hộ. Đây là nghi lễ khép lại vòng giao cảm giữa con người với tổ tiên.
.jpg)
Thầy cúng chia lộc cho những người tham gia nghi lễ trong mâm cảm ơn thầy mo và thầy thổi sáo
Xên hươn (cúng ma nhà) là nghi lễ truyền thống đặc sắc, mang đậm bản sắc văn hóa và giá trị tâm linh của người La Ha ở Sơn La. Dù trải qua thời gian dài và những tác động của hiện đại hóa, nghi lễ vẫn được cộng đồng gìn giữ bền bỉ như một phần cốt lõi của đời sống tinh thần. Xên hươn không chỉ là dịp gắn kết các thế hệ trong gia đình mà còn là biểu tượng sinh động của sự kế thừa văn hóa dân tộc. Việc nghiên cứu, bảo tồn và lan tỏa giá trị của nghi lễ này là cách thiết thực để góp phần giữ gìn nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc.
Quàng Tố Quyên, Phòng Nghiệp vụ Bảo tồn - Bảo tàng